Chuyện từ các vườn quốc gia
Đi qua 36 vườn quốc gia (VQG) từ Bắc vào Nam, tác giả Lê Minh Hoan không chọn cách giới thiệu rừng bằng những con số hay thuật ngữ chuyên ngành. Ông kể về rừng bằng cảm xúc, câu chuyện đời thường và những chiêm nghiệm sâu lắng. Vì thế, mỗi VQG trong cuốn sách “Cảm nhận VQG Việt Nam” hiện lên như một câu chuyện sống động về sự sống, ký ức văn hóa và tương lai xanh của đất nước.
![]() |
| Tác giả Lê Minh Hoan ký tặng cuốn sách “Cảm nhận Vườn quốc gia Việt Nam” cho các đại biểu tại lễ ra mắt sách đầu tháng 6-2026. |
Chạm vào linh hồn của rừng
Tác giả Lê Minh Hoan, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được biết đến là người luôn mang trong mình những ý tưởng đổi mới về nông nghiệp, nông thôn và phát triển bền vững. Nhưng bên cạnh dấu ấn của một nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược, ông còn là một cây bút giàu cảm xúc, luôn lựa chọn câu chuyện đời thường để chuyển tải những vấn đề lớn của đất nước.
Với bút danh “Xích Lô”, ông từng khởi xướng dự án “Đọc sách cùng Xích Lô” nhằm lan tỏa tinh thần học tập trong cộng đồng. Từ tình yêu sách, tình yêu thiên nhiên và những chuyến đi không mỏi mệt, “Cảm nhận VQG Việt Nam” ra đời như một tuyển tập đặc biệt, kết tinh những rung động chân thực của tác giả khi đi qua 36 VQG trải dài khắp đất nước. Cuốn sách dày hơn 100 trang nhưng không tạo cảm giác nặng nề của một công trình khảo cứu. Người đọc không bị dẫn vào rừng bằng bảng biểu, số liệu hay danh mục loài mà bằng những trang viết mềm mại, chậm rãi, giàu chất suy tưởng.
Đánh giá về tác phẩm, Tiến sĩ Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhận xét: “Cuốn sách mang cách nói của Nhân dân mộc mạc, giản dị mà chân thành; không thiên về miêu tả cảnh quan mà hướng tới gợi mở nhận thức, trong đó cảm xúc được tiết chế, suy tưởng được chưng cất, tạo sức lan tỏa vừa mạnh mẽ, vừa bền bỉ”. Ở góc độ quản lý ngành, PGS.TS. Trần Quang Bảo, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cho rằng: Các VQG trong cuốn sách hiện lên như những “không gian sống” toàn vẹn, nơi thiên nhiên không chỉ tồn tại, mà còn nuôi dưỡng tâm hồn con người, gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống và mở ra cơ hội phát triển bền vững. Mỗi trang viết đều hàm chứa thông điệp chuyển từ tư duy “bảo vệ rừng” sang “quản trị hệ sinh thái rừng”, từ “khai thác đơn giá trị” sang “phát triển đa giá trị”, từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản trị dựa trên tri thức, công nghệ và sự tham gia của cộng đồng.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, điều làm nên sức sống của “Cảm nhận VQG Việt Nam” không chỉ là những câu chuyện về rừng, mà là cách tác giả đi tìm phần hồn của những cánh rừng. Sau mỗi tán cây, dòng suối hay triền núi là bóng dáng của con người, văn hóa và những giá trị đang được gìn giữ cho tương lai. Và có lẽ, tinh thần ấy được gói trọn trong câu văn giản dị mà sâu sắc: “Rừng không có thầy, không có bảng, không có phấn. Nhưng ai biết lắng nghe sẽ thấy rừng dạy ta những bài học sâu thẳm về cân bằng, cộng sinh và bền vững”.
Từ màu xanh đến trách nhiệm
Mỗi VQG qua ngòi bút của Lê Minh Hoan không chỉ là một điểm đến trên bản đồ, mà là một bài học về cách con người ứng xử với thiên nhiên. Điều đặc biệt là ông không kể về rừng bằng diện tích hay số lượng loài quý hiếm, mà bằng những câu chuyện nhỏ để mở ra những suy ngẫm lớn.
Ở VQG Ba Bể, đó là chiếc thuyền độc mộc lặng lẽ lướt trên mặt hồ xanh thẳm, gợi nhắc về một nhịp sống chậm rãi, nơi con người học cách lắng nghe thiên nhiên nhiều hơn là chinh phục thiên nhiên. Với VQG Ba Vì, tri thức bản địa của người Dao hiện lên qua những gói lá thuốc, cho thấy bảo tồn thiên nhiên cũng chính là gìn giữ văn hóa và sinh kế cộng đồng. Đến VQG Cúc Phương, giữa muôn ngàn cánh bướm bay lên từ rừng già, tác giả nhận ra trách nhiệm với thiên nhiên luôn bắt đầu từ những việc nhỏ nhất: Một cây xanh được trồng, một mẩu rác được nhặt, một đứa trẻ được dạy biết yêu cây cỏ.
Ở điểm cuối của dải đất hình chữ S, VQG Mũi Cà Mau lại kể câu chuyện về mối quan hệ giữa rừng, đất và con người. Những cánh rừng đước bền bỉ giữ phù sa, giữ đất và giữ cả dấu chân khai mở phương Nam của cha ông. Từ đó, tác giả gợi mở một triết lý sâu sắc: Muốn có đất phải giữ rừng, muốn có tương lai phải giữ hệ sinh thái. Giàu có không chỉ nằm ở những gì con người lấy đi, mà còn ở những gì biết giữ lại cho thế hệ mai sau.
Còn ở Du Già - Cao nguyên đá Đồng Văn, câu chuyện lại trở nên gần gũi hơn với Tuyên Quang. Giữa vùng đất tưởng như chỉ có đá, tác giả nhìn thấy đá cũng biết “nở hoa”. Trên những triền núi khắc nghiệt, đồng bào Mông, Tày, Dao vẫn bền bỉ gieo mùa, giữ gìn bản sắc và kiến tạo cuộc sống. Qua đó, ông gợi mở một cách nhìn đầy nhân văn: Khó khăn không chỉ là trở ngại, mà còn có thể trở thành giá trị; phát triển không phải lúc nào cũng là đi nhanh hơn, mà đôi khi là biết đi chậm lại để hiểu sâu hơn những gì đang có.
Những suy ngẫm ấy cũng là điều anh Vũ Đức Quỳnh, Trưởng phòng Quản lý bảo vệ rừng và Bảo tồn thiên nhiên, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang tâm đắc sau khi đọc cuốn sách. Theo anh, điều đọng lại không chỉ là vẻ đẹp của 36 VQG, mà là cách tác giả đặt con người vào trung tâm của câu chuyện bảo tồn, từ đó lan tỏa tình yêu thiên nhiên và truyền cảm hứng hành động. Muốn giữ được màu xanh lâu dài phải làm cho người dân thấy được giá trị của rừng và trở thành chủ thể của công tác bảo tồn. Khi người dân sống được nhờ rừng, hiểu rừng và tự hào về rừng, họ sẽ là những người giữ rừng hiệu quả nhất.
Có những cuốn sách kết thúc ở trang cuối, nhưng “Cảm nhận VQG Việt Nam” khép lại để mở ra một hành trình thức tỉnh. Phía sau vẻ đẹp kỳ vĩ của đại ngàn là vai trò sống còn của những cánh rừng trong việc giữ nước, chắn bão và bảo vệ đa dạng sinh học. Cuốn sách không chỉ chạm đến lòng trắc ẩn bằng những giá trị tự nhiên không thể tái tạo, mà còn hoàn thành sứ mệnh lớn nhất: Biến tình yêu rừng thành hành động thiết thực để bảo vệ tương lai xanh của đất nước.
Mỹ Uyên











Ý kiến bạn đọc