“Áo mới” cho làng nghề truyền thống
Tuyên Quang có nhiều làng nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, làm giấy bản, đan lát, chế biến chè... góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Nhiều sản phẩm đã được nâng tầm, trở thành sản phẩm OCOP, là quà tặng du lịch, thậm chí có sản phẩm được xuất khẩu. Tuy nhiên, trong dòng chảy phát triển hôm nay, nhiều làng nghề đối mặt với nguy cơ mai một và cần trợ lực để vực dậy trong nhịp sống hiện đại.
![]() |
| Đồng bào dân tộc Tày, xã Xuân Giang giữ gìn nghề truyền thống đan nón lá hai mê. |
Nhịp sống nghề quê
Trong không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Pà Thẻn, thôn My Bắc, xã Tân Trịnh, tiếng khung cửi vẫn đều đặn vang lên mỗi ngày. Những đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân thoăn thoắt đưa từng sợi chỉ đỏ, vàng, xanh đan xen trên nền vải, tạo nên những hoa văn mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc. Từ năm 2017, khi Hợp tác xã (HTX) Thổ cẩm Pà Thẻn Tân Bắc được thành lập, nghề dệt truyền thống như được tiếp thêm sức sống. Các cấp, ngành đã hỗ trợ máy móc, đào tạo nghề, xúc tiến thương mại, kết nối thị trường và tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn ưu đãi. Đặc biệt, sự đồng hành của Tổ chức Good Neighbors International (GNI) Hàn Quốc tại Việt Nam đã mở ra cơ hội đưa sản phẩm vươn ra thị trường nước ngoài.
Năm 2025, HTX đã hoàn thành đơn hàng xuất khẩu 1.000 sản phẩm thổ cẩm sang Hàn Quốc. Năm nay, HTX tiếp tục thực hiện hơn 800 sản phẩm gồm móc khóa túi thơm và ví đựng thẻ phục vụ thị trường này. Song song với đó, các thành viên còn chủ động quảng bá sản phẩm trên nền tảng số thông qua Facebook, Zalo và các phiên livestream bán hàng. Nhờ vậy, thổ cẩm Pà Thẻn ngày càng được khách hàng trong và ngoài nước biết đến.
Chị Tải Thị Mai, Giám đốc HTX Thổ cẩm Pà Thẻn Tân Bắc chia sẻ: “Bên cạnh việc mở rộng đầu ra cho sản phẩm, nghề dệt đã tạo việc làm thường xuyên cho hơn 10 thành viên với mức thu nhập từ 3 - 6 triệu đồng/người/tháng. Mỗi sản phẩm thổ cẩm đều là một sứ giả văn hóa của đồng bào Pà Thẻn. Ngoài yếu tố thẩm mỹ và tính ứng dụng, tất cả sản phẩm đều được gắn tem truy xuất nguồn gốc, nhằm bảo đảm chất lượng và giúp khách hàng hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa chứa đựng trong đó”.
Không chỉ có những nghề truyền thống lâu đời, nhiều nơi trong tỉnh còn mạnh dạn tạo dựng những làng nghề mới trên nền tảng lợi thế sản xuất của địa phương. Thôn Mỹ Tân, xã Tân Quang là một minh chứng điển hình. Từ vùng đất chủ yếu trồng lúa, ngô với hiệu quả kinh tế thấp, người dân đã chuyển sang phát triển nghề trồng hoa, cây cảnh, hình thành vùng sản xuất tập trung rộng hơn 40 ha với trên 100 hộ tham gia. Các loại hoa, cây cảnh có giá trị kinh tế cao như: Đào cảnh, mẫu đơn, hồng, cúc, lan, tùng la hán... Năm 2021, thôn Mỹ Tân được công nhận là làng nghề sản xuất và kinh doanh hoa, cây cảnh, đánh dấu bước chuyển từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phát triển kinh tế hàng hóa.
Ông Trần Văn Hoàng, Trưởng thôn Mỹ Tân cho biết: “Mỗi năm, làng nghề cung ứng lượng lớn hoa và cây cảnh cho thị trường trong và ngoài tỉnh, đạt doanh thu trên 4 tỷ đồng. Thu nhập bình quân của các hộ tham gia sản xuất đạt khoảng 67 triệu đồng/năm, nhiều hộ có doanh thu hàng trăm triệu đồng. Đặc biệt, hai sản phẩm Đào cảnh và Tùng la hán đã được công nhận OCOP 3 sao, góp phần nâng cao giá trị thương hiệu và khẳng định vị thế của làng nghề trên thị trường”.
![]() |
| Phụ nữ Pà Thẻn giữ gìn nghề dệt thổ cẩm. |
Nỗi lo mai một
Sau tấm biển công nhận làng nghề là không ít nỗi trăn trở. Làng nghề chè Vĩnh Tân, thôn Thia, xã Tân Trào là một ví dụ. Được công nhận làng nghề từ năm 2014, với hơn 120 ha chè nguyên liệu, nơi đây từng là vùng sản xuất chè nổi tiếng của địa phương. Mỗi vụ thu hoạch, hương chè mới lại lan tỏa khắp các sườn đồi, trở thành hình ảnh quen thuộc của nơi đây. Thế nhưng, sau hơn một thập kỷ được công nhận, làng nghề vẫn chưa tạo được bước phát triển tương xứng với tiềm năng. Trong thôn có 135 hộ trồng chè, song phần lớn vẫn sản xuất theo quy mô hộ gia đình, thiếu sự liên kết trong chế biến và tiêu thụ. Nhiều sản phẩm vẫn bán dưới dạng nguyên liệu hoặc chè sơ chế nên giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc nhiều vào thương lái và biến động của thị trường.
Ông Phạm Ngọc Thảnh, Trưởng thôn Thia chia sẻ: “Thu nhập từ cây chè không còn hấp dẫn như trước. Giá cả lên xuống thất thường khiến nhiều hộ chưa mạnh dạn đầu tư cải tạo giống, ứng dụng khoa học kỹ thuật hay đổi mới công nghệ chế biến. Một số hộ đã chuyển một phần diện tích sang trồng cây ăn quả hoặc cây lâm nghiệp để có nguồn thu ổn định hơn”.
Thực trạng ở làng nghề chè Vĩnh Tân cũng phản ánh bức tranh chung của nhiều làng nghề trên địa bàn tỉnh. Theo thống kê, trong hơn 50 làng nghề và làng nghề truyền thống đã được công nhận trên địa bàn tỉnh, chỉ khoảng 10 làng nghề hoạt động thực sự hiệu quả, số còn lại chủ yếu duy trì ở quy mô nhỏ hoặc hoạt động cầm chừng. Thách thức lớn nhất là quy mô sản xuất còn phân tán và sự thay đổi nhanh chóng của thị trường. Phần lớn các hộ vẫn làm nghề theo phương thức truyền thống, vốn ít, thiết bị lạc hậu, năng lực quản trị hạn chế nên khó đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị hiếu tiêu dùng về chất lượng, mẫu mã, truy xuất nguồn gốc hay xây dựng thương hiệu. Không ít sản phẩm có giá trị văn hóa đặc sắc nhưng vẫn chỉ tiêu thụ trong phạm vi hẹp, chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị và khó cạnh tranh.
Đáng lo hơn là khoảng trống trong đội ngũ kế cận. Ở nhiều làng nghề, những nghệ nhân tâm huyết vẫn ngày ngày cần mẫn giữ nghề, nhưng lớp trẻ lại lựa chọn làm việc tại các khu công nghiệp hoặc chuyển sang ngành nghề khác có thu nhập cao hơn.
Theo ông Triệu Trần Phú, Làng nghề truyền thống sản xuất giấy bản của người Dao, thôn Thanh Sơn, xã Bắc Quang: “Toàn thôn có hơn 90 hộ duy trì nghề, mỗi năm sản xuất khoảng 3 vạn bục giấy. Nghề vẫn mang lại nguồn thu ổn định cho nhiều gia đình, song điều tôi trăn trở nhất là ít người trẻ theo nghề. Nếu không có chính sách hỗ trợ thiết thực để thu hút học nghề, tạo việc làm, thì việc gìn giữ nghề về lâu dài sẽ rất khó khăn”.
Những trăn trở đó cũng đặt ra yêu cầu phải có một cách tiếp cận mới trong phát triển làng nghề. Không chỉ bảo tồn những gì đã có, mà cần thổi vào làng nghề sức sống mới để tiếp tục lan tỏa trong nhịp sống hiện đại.
![]() |
| Nghề sản xuất và kinh doanh hoa, cây cảnh của thôn Mỹ Tân, xã Tân Quang mang lại nguồn thu nhập cao cho người dân trong thôn. |
Tiếp sức cho làng nghề vươn xa
Theo Kế hoạch số 168/KH-UBND của UBND tỉnh về bảo tồn và phát triển làng nghề giai đoạn 2026 - 2030, các làng nghề được định hướng phát triển gắn với xây dựng vùng nguyên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới và khai thác tiềm năng du lịch cộng đồng. Mục tiêu đến năm 2030, trên 50% số làng nghề và làng nghề truyền thống được công nhận hoạt động hiệu quả; hơn 70% lao động được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghề và kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin; 15% làng nghề có sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên; 40% làng nghề phát triển sản phẩm phục vụ du lịch và 100% làng nghề đang hoạt động đáp ứng các quy định về bảo vệ môi trường. Các làng nghề có nguy cơ mai một sẽ được ưu tiên khôi phục, tạo nền tảng để những giá trị văn hóa đặc sắc được lưu giữ và phát huy. Ngành công thương cũng cam kết, sẽ đưa các sản phẩm truyền thống, sản phẩm của các làng nghề, làng có nghề có mặt tại tất cả các vùng du lịch trọng điểm của tỉnh - đây được xem là cam kết lâu dài nhằm phát huy, bảo tồn nghề truyền thống lâu đời tại địa phương.
Chuyển đổi số được xác định là một trong những động lực quan trọng. Từ việc ứng dụng mã QR truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu trên môi trường số đến quảng bá sản phẩm qua mạng xã hội, livestream bán hàng, nhiều làng nghề đang từng bước thay đổi phương thức sản xuất và tiêu thụ. Công nghệ trở thành cầu nối đưa những sản phẩm mang đậm dấu ấn văn hóa địa phương đến gần hơn với người tiêu dùng trong và ngoài nước.
Đồng chí Trần Hải Tuyên, Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn và Quản lý chất lượng, Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết: “Ngành sẽ tiếp tục phối hợp với các xã, phường quy hoạch vùng nguyên liệu, hỗ trợ phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác, thúc đẩy liên kết theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ. Đồng thời, phát triển các sản phẩm OCOP trong chính những làng nghề, giúp gia tăng giá trị kinh tế, đưa sản phẩm tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, phục vụ du lịch và phát triển bền vững”.
Khi được tiếp sức bằng những chính sách phù hợp và sự đồng lòng của người dân, nghề xưa sẽ tiếp tục được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đây cũng là tiền đề để những giá trị truyền thống không chỉ được gìn giữ, mà còn đơm hoa kết trái, tạo thành nguồn sinh kế vững vàng và niềm tự hào của người dân xứ Tuyên.
Bài, ảnh: Thúy Nga
Tạo động lực cho làng nghề phát triển
![]() |
| Ông Nguyễn Tiến Hưng Phó Giám đốc Sở Công Thương |
Hiện nay, nhiều làng nghề trên địa bàn tỉnh đang duy trì và phát triển được các hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, phần lớn các cơ sở sản xuất còn nhỏ lẻ, thiết bị lạc hậu, nguồn vốn đầu tư hạn chế; việc xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Đây là những khó khăn cần được tháo gỡ để làng nghề phát triển bền vững.
Thời gian tới, Sở Công Thương sẽ tiếp tục tham mưu triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề; ưu tiên nguồn kinh phí khuyến công để các cơ sở đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Đồng thời, tăng cường hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu, bao bì, tem truy xuất nguồn gốc; tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu, tạo điều kiện để sản phẩm làng nghề tham gia hội chợ, triển lãm và các sàn thương mại điện tử.
Đánh thức giá trị làng nghề trong phát triển du lịch
![]() |
| Ông Đỗ Trung Kiên Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch |
Làng nghề truyền thống chỉ có thể được bảo tồn bền vững khi trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị văn hóa - du lịch. Hiện nay, nhiều làng nghề chưa gắn kết hiệu quả với du lịch và thị trường, trong khi sức hấp dẫn của làng nghề lại nằm ở không gian văn hóa, câu chuyện nghề, kỹ năng của nghệ nhân và những trải nghiệm bản địa. Vì vậy, nhiều giá trị văn hóa đặc sắc vẫn chưa được chuyển hóa thành giá trị kinh tế.
Quan điểm của ngành là bảo tồn gắn với phát triển, lấy phát triển để nuôi dưỡng bảo tồn. Thời gian tới, ngành tập trung xây dựng các làng nghề tiêu biểu thành điểm đến trong các tuyến, tour du lịch như làng nghề dệt lanh Lùng Tám (Quản Bạ), nơi du khách được trực tiếp trải nghiệm các công đoạn tuốt lanh, dệt, nhuộm chàm, vẽ sáp ong; làng du lịch cộng đồng Nà Tông (Thượng Lâm) với nghề dệt thổ cẩm, thêu thùa, đan lát truyền thống hay mô hình Làng sáng tạo nội dung số gắn với phát triển du lịch xã Lâm Bình.
Mở lối cho làng nghề truyền thống
![]() |
| Bà Nguyễn Thị Yêu Giám đốc HTX Dệt thổ cẩm Lâm Bình |
Nghề dệt thổ cẩm là nét đẹp văn hóa truyền thống được đồng bào Tày, Dao ở địa phương gìn giữ qua nhiều thế hệ. Năm 2021, HTX Dệt thổ cẩm Lâm Bình được thành lập với 7 thành viên, đến nay phát triển lên hơn 30 thành viên, góp phần liên kết các hộ sản xuất, giữ nghề và nâng cao giá trị sản phẩm.
HTX vừa bảo tồn hoa văn truyền thống, vừa cải tiến mẫu mã, phát triển các sản phẩm như túi xách, ví, khăn quàng, phụ kiện, quà lưu niệm. Hiện, sản phẩm khăn và trang phục dân tộc Tày của HTX đạt OCOP 3 sao cấp tỉnh. Cùng với đó, việc quảng bá trên Facebook, TikTok giúp mở rộng thị trường, đưa sản phẩm đến nhiều tỉnh, thành cả nước và cả khách hàng tại Nhật Bản. Nhờ đó, các thành viên có thu nhập bình quân từ 5 - 10 triệu đồng/người/tháng. Năm nay, HTX tiếp tục hoàn thiện sản phẩm túi thổ cẩm tham gia đánh giá, phân hạng OCOP, gắn phát triển nghề truyền thống với du lịch cộng đồng, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm.
Giữ nghề và phát triển đặc sản địa phương
![]() |
| Ông Triệu Văn Đoan Giám đốc HTX chè Tân Thượng, xã Minh Thanh |
Trước đây, người dân chủ yếu sản xuất nhỏ lẻ, mỗi hộ làm một cách nên chất lượng chè không đồng đều, rất khó xây dựng thương hiệu và tìm đầu ra ổn định. Vì vậy, chúng tôi quyết định thành lập HTX để tập hợp các hộ cùng liên kết sản xuất, thống nhất quy trình chăm sóc, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đến nay, HTX có 24 thành viên liên kết, phát triển 7,5 ha chè, mỗi năm thu hoạch trên 50 tấn chè búp tươi. Toàn bộ diện tích được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, sản phẩm đạt OCOP 3 sao, nhờ đó giá trị chè ngày càng được nâng lên, doanh thu của HTX đạt 650 - 700 triệu đồng mỗi năm. Chúng tôi xác định, muốn giữ được làng nghề chè thì trước hết phải làm ra sản phẩm chất lượng, có thương hiệu và thị trường ổn định. Khi cây chè mang lại thu nhập bền vững, người dân mới yên tâm gắn bó với nghề truyền thống, đồng thời tạo động lực để thế hệ trẻ tiếp tục phát triển vùng chè quê hương.
Giữ lửa nghề chạm bạc
![]() |
| Nghệ nhân Mua Sè Sính Thôn Lao Xa, xã Sà Phìn |
Gia đình tôi có 7 đời gắn bó với nghề chạm bạc của người Mông. Điều khiến tôi trăn trở nhất không phải là làm ra được nhiều sản phẩm, mà là làm sao để nghề không bị thất truyền. Vì vậy, từ khi các con, cháu còn nhỏ, tôi đã cho các cháu làm quen với từng công đoạn, từ học nhận biết hoa văn, sử dụng dụng cụ đến rèn luyện sự khéo léo và tính kiên nhẫn. Truyền nghề không thể vội vàng, mà phải truyền bằng cả tâm huyết và trách nhiệm. Tôi luôn nhắc con cháu rằng mỗi sản phẩm chạm bạc đều mang trong mình nét văn hóa, bản sắc của người Mông, nên phải làm bằng sự chỉn chu và lòng tự hào. Khi thế hệ trẻ tiếp tục nối nghề, tôi tin rằng nghề chạm bạc truyền thống sẽ còn được gìn giữ, phát triển và có chỗ đứng vững chắc trong cuộc sống hôm nay.


















Ý kiến bạn đọc