Vết hằn dây địu - Bài 2: Bạo lực vô hình nơi rẻo cao
Người ta thường nghĩ bạo lực phải là đòn roi hay những lời nhiếc móc. Nhưng ở nhiều bản làng, có một nỗi đau vô hình cứ lặng lẽ quẩn quanh bên xó bếp: đó là khi người phụ nữ đành lòng chửa đẻ hết lứa này đến lứa khác mà không có quyền từ chối. Những lần sinh nở liên miên ấy không chỉ bòn rút thanh xuân của mẹ, chất thêm gánh mưu sinh lên vai cha, mà buồn thay, còn cuốn tương lai của những đứa trẻ vào một vòng luẩn quẩn.
Bài cuối: Cuộc cách mạng từ trong túi địu
Vắt kiệt thanh xuân
Dưới hiên nhà xập xệ ở thôn Đoàn Kết, xã Bản Máy, chị Chẩu Thị Ly (sinh năm 1991) ngồi lặng lẽ nhặt mớ rau rừng. 35 tuổi - độ tuổi mà lẽ ra người phụ nữ đang ở độ chín của sức khỏe và sự tự tin, thì chị Ly lại mang dáng dấp của một người đàn bà ngũ tuần còm cõi. Vợ chồng chị và anh Ma Dìn Chảo đã có với nhau 7 mặt con. Trải qua 7 lần mang thai, sinh nở và cạn sữa, cơ thể chị mỏng manh như chiếc lá rừng chực rụng.
![]() |
| Một gia đình ở thôn Khuổi Ma, xã Hùng Lợi có tới 8 người con thì có 5 cháu suy dinh dưỡng, 3 cháu bị dị tật ở chân. |
Sự mòn mỏi về thể xác của chị Ly đau xót thay lại là hình ảnh chung của rất nhiều phụ nữ vùng cao. Thạc sĩ, Bác sĩ nội trú Nguyễn Ngọc Ánh Trang, Giảng viên Trường Đại học Phenikaa (Hà Nội) nhận định: "Một cơ thể phụ nữ cần tối thiểu 2 đến 3 năm để phục hồi khí huyết, nội tiết và dự trữ vi chất sau mỗi lần sinh. Việc mang thai năm một, năm hai trong điều kiện thiếu thốn dinh dưỡng không khác gì hành động rút tủy. Cơ thể họ rệu rã dần. Đó không đơn thuần là đẻ tự nhiên, đó là bạo lực sinh sản khi người phụ nữ mất đi quyền quyết định với sức khỏe của chính mình".
Nhưng, nỗi đau bạo lực sinh sản dội lại khốc liệt nhất không nằm ở những cơn đau thắt lưng lúc trái gió trở trời, mà nằm ở bi kịch bế tắc phải dứt ruột cho đi đứa con mình mang nặng đẻ đau. Tại thôn Tả Chải, xã Bản Máy, người mẹ trẻ S.T.B. sinh năm 2001, mới 25 tuổi nhưng đã qua 4 lần sinh nở. Cuộc sống khó khăn tháng 2-2026 vừa qua, chị B. và chồng cắn răng ôm đứa con trai nhỏ đem cho làm con nuôi tận xã Pờ Ly Ngài. Giọt nước mắt của người mẹ 25 tuổi rơi chát đắng trên vạt áo chàm. Cùng chung cảnh ngộ rớt nước mắt ấy, tại thôn Ngài Trồ, xã Thàng Tín, hộ anh V.H.K. và chị L.T.N. (sinh năm 1989) cũng đành gạt nước mắt, bế cô con gái mới lọt lòng đem cho một gia đình ở xã Lao Chải vì sức cùng lực kiệt, không kham nổi miệng ăn cho cả 4 đứa con.
Mắc kẹt trong định kiến
Các đề án quốc gia, các chính sách chuyển đổi số, hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp vươn tới từng nếp nhà. Thế nhưng, ở một số thôn bản vùng cao Tuyên Quang, trong những gia đình đông con, thế giới dường như vẫn đứng im, họ bị mắc kẹt trong định kiến, cơ hội phát triển cứ thế dừng lại.
Ở thôn Cảng Tàng, xã Lũng Cú, cuộc đời chị Ly Thị Cáy bị thu hẹp lại bằng đúng khoảng cách từ chiếc giường ra tới xó bếp. Lấy chồng năm 17 tuổi, thanh xuân của chị Cáy bị đánh cắp bởi 11 lần sinh nở. Khi được hỏi sao không xin trạm y tế đặt vòng hay cấy que tránh thai, chị chỉ ngước đôi mắt rụt rè, bẽn lẽn cười. Qua lời phiên dịch đứt quãng của cán bộ thôn, câu trả lời của người mẹ 11 con nghe thật thà đến quặn lòng: "Chồng bảo đẻ thì đẻ, đẻ đến khi nào đứt cái đuôi (hết khả năng sinh đẻ) thì mới được nghỉ thôi”.
Sinh nhiều con, tảo hôn khiến một bộ phận không nhỏ thế hệ Gen Z “lỗi nhịp” với dòng chảy chung của thời đại. Câu chuyện của Vừ Thị S. (sinh năm 2001), thôn Lùng Thúng, xã Sơn Vĩ là một lát cắt buồn của sự “lỗi nhịp” ấy. 17 tuổi, đáng lẽ còn ngồi trên ghế nhà trường, S., vội theo chồng về bản. Chỉ 6 năm sau ngày làm dâu, khi mới bước sang tuổi 23, em đã trở thành mẹ của 4 đứa trẻ. Giờ đây ở tuổi 25, S. vẫn đang quẩn quanh trong một vòng tròn khép kín: Không biết chữ, không nói được tiếng phổ thông - tảo hôn - sinh dày - nghèo đói.
Những trường hợp như S. không phải là cá biệt. Dữ liệu theo dõi dân số tại cơ sở cho thấy một thực tế đáng suy ngẫm. Chỉ từ năm 2025 đến tháng 4-2026, Trung tâm Y tế khu vực Hàm Yên ghi nhận 60 phụ nữ sinh con từ thứ 4, 5 trở lên, trong đó có 6 bà mẹ thuộc thế hệ Gen Z. Ở tuổi đáng lẽ là thời điểm khởi đầu cho học tập, nghề nghiệp và những lựa chọn cá nhân, nhiều cô gái nơi đây đã bước vào chu kỳ sinh nở dày đặc.
Lập luận về vấn đề này, Thạc sỹ Xã hội học Triệu Thị Phượng, giảng viên Đại học Khoa học xã hội và nhân văn chỉ rõ: "Hệ lụy sâu xa của việc đẻ nhiều là sự cách ly xã hội hoàn toàn đối với người phụ nữ. Họ vắng mặt trong mọi cơ hội học tập, phát triển bản thân và tiếp cận kinh tế số. Khi họ không có năng lực tự chủ, họ mất đi quyền tự quyết. Đó là sự bất bình đẳng giới sâu sắc và tĩnh lặng nhất”.
Hệ lụy suy thoái giống nòi
Nghịch lý xót xa nhất tại những bản làng đông con không chỉ dừng lại ở những bữa cơm độn sắn ngô, mà là hình ảnh những đứa trẻ tự lớn lên như cỏ dại. Việc cha mẹ mải miết bám nương rẫy kiếm ăn đã biến "anh trông em, chị địu em, đứa 3 tuổi cõng đứa 1 tuổi" trở thành công thức chung của những gia đình 7, 8 mặt con. Những bé gái 8 tuổi, 10 tuổi với dáng người loắt choắt, đôi vai gầy gò chưa kịp nở nang đã phải gánh trên lưng một chiếc địu nặng trĩu đứa em đỏ hỏn.
Thống kê sơ bộ tại các điểm trường vùng khó cho thấy, tỷ lệ bỏ học, nghỉ học giữa chừng rơi vào mức cao nhất ở nhóm các em gái thuộc gia đình sinh từ 5 con trở lên. Thầy giáo Nguyễn Thiện Hà, Hiệu trưởng Trường PTDT bán trú Tiểu học và THCS Thàng Tín chia sẻ: "Nhiều em nữ học rất sáng dạ, nhưng hễ nhà đẻ thêm đứa thứ 5, thứ 6 là tự động vắng mặt ở lớp. Thầy cô đến tận nhà vận động, phụ huynh chỉ tay vào đàn con nheo nhóc bảo: Nó đi học thì ai địu em cho tao đi làm nương?. Chúng tôi đành bất lực nhìn học trò gác lại con chữ. Để rồi chỉ dăm ba năm sau lại thấy các em tảo hôn, lặp lại y nguyên vòng đời quẩn quanh và chửa đẻ liên miên như chính mẹ mình”.
Các số liệu thống kê y tế tại những xã vùng sâu, vùng xa đã chỉ ra một thực trạng nhức nhối: tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi mắc suy dinh dưỡng thể thấp còi và nhẹ cân vẫn ở mức đáng báo động, lên tới trên 30%. Đáng chú ý, tỷ lệ này tập trung dày đặc ở những hộ đồng bào dân tộc thiểu số sinh từ 5 con trở lên.
Nhưng hệ lụy đáng buồn nhất của việc sinh đẻ không có kế hoạch không chỉ là sự thất học hay nghèo đói, mà nó đang trực tiếp đe dọa đến chất lượng dân số, gây suy giảm giống nòi. Bế tắc và ám ảnh hơn cả là trường hợp của anh Dương Văn Thắng, thôn Khuổi Ma, xã Hùng Lợi. Vợ chồng anh Thắng chửa đẻ liên tục 8 người con. Vì đẻ dày, cơ thể người mẹ kiệt quệ, thiếu chất, cộng với điều kiện chăm sóc y tế yếu kém, những đứa trẻ sinh ra bị suy dinh dưỡng nặng, 3 trong số 8 cháu dị tật, khèo chân thương tâm.
Sự cùng cực ấy không phải là trường hợp cá biệt. Ông Giàng A Páo, Trưởng thôn Khuổi Ma ngậm ngùi đúc kết một thực tế đau lòng: "Cả thôn có 10 hộ đẻ từ 6 con trở lên, thì cả 10 hộ đó đều là hộ nghèo. Đàn ông ở bản nghĩ đẻ nhiều cho vui cửa vui nhà, cho có người đi làm nương. Nhưng đẻ xong thì cái nghèo nó trói chặt lấy chân, con cái sinh ra ốm đau quặt quẹo, đi làm thuê làm mướn quanh năm cũng không lo nổi cho con đủ đầy".
Nhìn nhận vấn đề dưới góc độ y tế và dân số, Thạc sĩ, Bác sĩ nội trú Nguyễn Ngọc Ánh Trang, giảng viên Trường Đại học Phenikaa (Hà Nội) phân tích: "Khi người phụ nữ bị tước đoạt quyền tự quyết định khoảng cách sinh, mang thai liên tục trong tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng, hậu quả tất yếu là suy dinh dưỡng bào thai và gia tăng tỷ lệ dị tật bẩm sinh. Những đứa trẻ sinh ra không được chăm sóc đầy đủ cả về thể chất lẫn trí tuệ. Đây chính là sự suy thoái giống nòi một cách rõ rệt nhất”.
Bởi thiếu hiểu biết và cứ mãi nương theo luật tục bao đời, nhiều phụ nữ đành lặng lẽ chấp nhận vòng quay chửa đẻ nhọc nhằn. Thế nhưng, sự cam chịu của người mẹ hôm nay lại vô tình làm lỡ dở tương lai của những đứa con ngày mai. Đã đến lúc cần nhanh chóng cởi bỏ những quan niệm lạc hậu, hủ tục ấy. Khi người phụ nữ được tự quyết định việc sinh nở, họ sẽ thôi làm những chiếc bóng lặng lẽ để tự tin bước ra vùng ánh sáng.
Bài, ảnh: Chúc Huyền, Giang Lam, Biện Luân, Thu Phương
(còn nữa)










Ý kiến bạn đọc