Nâng cao sức khỏe cho đất
Sản xuất nông nghiệp sạch tại Tuyên Quang đã có những bước phát triển đáng ghi nhận. Nhiều mô hình nông nghiệp hữu cơ, sản xuất hàng hóa và nông sản chất lượng cao đang từng bước chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước. Tuy nhiên, một thực tế rất đáng lo ngại là việc lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong canh tác đang gây ô nhiễm môi trường đất nghiêm trọng, phát sinh nhiều hệ lụy cho sức khỏe cộng đồng mà khó có thể khắc phục trong “một sớm, một chiều”.
Thói quen này không chỉ làm nông dân lãng phí chi phí mà còn làm mất đi tính bền vững của hệ sinh thái đất, trở thành rào cản lớn cho mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng xanh, sạch.
Báo Tuyên Quang giới thiệu loạt bài: "Nâng cao sức khỏe cho đất" nhằm đánh giá lại thực trạng cũng như cách làm của Tuyên Quang trong việc hạn chế phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật cũng như xây dựng nền nông nghiệp xanh, hiện đại, thích ứng yêu cầu phát triển.
Bài 1: Khi đất... ngộ độc
Thói quen lạm dụng phân bón hóa học và thuốc BVTV trong thời gian dài đang âm thầm "bức tử" hệ sinh thái đất tại Tuyên Quang. Đây không còn là câu chuyện của một vùng, một địa phương mà là thực trạng phổ biến ở hầu khắp các vùng sản xuất nông nghiệp trong tỉnh, nơi áp lực tăng năng suất, thâm canh đang lấn át ý thức bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Thói quen “bức tử” đất
Một chiều tháng 5, chúng tôi có mặt tại tổ dân phố Mỹ Bằng 13, phường Mỹ Lâm, vùng chè trọng điểm của tỉnh. Không khó để nhận ra không khí tất bật của bà con đang chăm sóc những đồi chè xanh mướt. Nhưng đằng sau màu xanh ấy là lượng vật tư nông nghiệp khổng lồ đổ xuống đất mỗi năm.
Chị Nguyễn Thị Bích Hạnh, tổ dân phố Mỹ Bằng cho biết: Gia đình đang thâm canh, chăm sóc hơn 5 ha chè. Lượng thuốc BVTV dùng cho chè không cố định, phụ thuộc vào từng loại dịch hại và năng suất, nhưng trung bình, lượng thuốc BVTV cần dùng từ 0,5 - 1,5 kg/ha. Lượng thuốc không cố định mà phụ thuộc vào từng loại dịch hại, từng thời điểm trong năm.
Nghe tưởng bình thường, nhưng nhân con số ấy với hàng trăm ha chè trên địa bàn, tổng lượng thuốc BVTV thấm xuống đất mỗi năm là con số không thể xem nhẹ. Đồng chí Lê Đình Quyết, Phó Chủ tịch UBND phường Mỹ Lâm đánh giá: Toàn phường có hơn 600 ha chè, bình quân mỗi năm nông dân sử dụng khoảng 681 tấn supe lân, 783 tấn urê và 205 tấn KCl. Lượng phân này được chia đều bón từ 5 đến 6 lần mỗi năm. Trên địa bàn phường hiện có tới 31 cửa hàng kinh doanh phân bón, thuốc BVTV, con số phản ánh rõ nét nhu cầu vật tư nông nghiệp của người dân lớn đến mức nào.
![]() |
| Người dân xã Tân Trào thu hái chè. |
Nhưng điều đáng lo không chỉ là số lượng, mà còn là cách sử dụng. Ông Quyết thẳng thắn thừa nhận: Tình trạng phun thuốc quá nhiều lần, vượt quá 2 lần mỗi lứa cắt (khoảng 1,5 tháng) vẫn phổ biến. Nhiều hộ tự ý phối trộn nhiều loại thuốc để "phun phòng" cho tiện công, không theo bất kỳ hướng dẫn kỹ thuật nào. Nguy hiểm hơn cả là việc không tuân thủ thời gian cách ly, trong khi phần lớn các loại thuốc yêu cầu cách ly từ 7 đến 14 ngày, nhiều hộ chỉ cách ly 4 đến 6 ngày rồi thu hái.
Phản ánh thực tế tại các kênh phân phối, bà Đặng Thị Loan, Chủ cửa hàng phân bón Loan Đạm, thôn Lũng, phường Mỹ Lâm cho biết: Các dòng phân bón và thuốc trừ sâu có nguồn gốc hóa học vẫn là lựa chọn ưu tiên hàng đầu của phần lớn người dân trong vùng. Tại đại lý, tỷ lệ tiêu thụ giữa vật tư hóa học và các sản phẩm hữu cơ có sự chênh lệch rất lớn, khi tư duy canh tác truyền thống, chuộng hiệu quả nhanh của bà con vẫn chiếm tỷ lệ áp đảo.
Không chỉ vùng chè Mỹ Lâm, ở vùng trồng ngô thuộc xã như Tri Phú, hậu quả của việc lạm dụng thuốc trừ cỏ và thuốc BVTV từng để lại vết thương rõ ràng trên đất.
Bà Phạm Thị Hồng, Giám đốc HTX Nông nghiệp hữu cơ Hồng Phát, xã Tri Phú nhớ lại: Nhiều diện tích đất trồng ngô trước đây cằn cỗi đến mức phải bỏ hoang nhiều năm do người dân đổ quá nhiều thuốc BVTV và phân bón hóa học xuống đất, trong khi không có bất kỳ cơ chế "giải độc" nào cho đất. Để vực lại những mảnh đất ấy, Hợp tác xã Nông nghiệp hữu cơ Hồng Phát quyết định đưa cây đậu đen vào trồng theo hướng hữu cơ - không sử dụng phân hóa học, không thuốc BVTV. Với đặc tính ưa đất cằn và bộ rễ có khả năng làm tơi xốp đất, cây đậu đen vừa là nguyên liệu sản xuất trà đậu đen xanh lòng, vừa góp phần cải tạo lại thổ nhưỡng. Năm 2026, Hợp tác xã đã mở rộng vùng nguyên liệu tại các xã Yên Lập, Kim Bình, Tri Phú, Liên Hiệp và xã Nam Cường (Thái Nguyên) với diện tích khoảng 70 ha.
Tăng trưởng “nóng”, thiếu kiến thức sản xuất
Theo số liệu của Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, mỗi năm hoạt động nông nghiệp phát sinh khoảng 9.000 tấn chất thải nguy hại, chủ yếu là thuốc BVTV, trong đó không ít loại thuốc có độ độc cao đã bị cấm sử dụng. Ngoài ra, cả nước còn khoảng 50 ngàn tấn thuốc BVTV tồn lưu tại hàng chục kho bãi; 37.000 tấn hóa chất dùng trong nông nghiệp bị tịch thu đang được lưu giữ chờ xử lý.
Theo Cục BVTV, 80% nông dân phun thuốc BVTV lên cây trồng là không đúng đối tượng, làm tăng chi phí sản xuất nhưng ảnh hưởng đến môi trường, gây ô nhiễm và lãng phí, dẫn tới nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực phẩm, mất thị trường tiêu thụ trong nước lẫn xuất khẩu.
Riêng tại Tuyên Quang, theo kết quả điều tra năm 2024, toàn tỉnh sử dụng hơn 3.000 tấn thuốc BVTV để quản lý dịch hại. Trong đó, lúa, ngô, chè, cam là những cây trồng có mật độ sử dụng thuốc dày đặc nhất: có đến 90% số người dân được điều tra cho biết phun thuốc trên 6 lần mỗi vụ.
Điều đáng lo ngại là áp lực tăng trưởng "nóng" về diện tích đang đi cùng với lỗ hổng kiến thức của người sản xuất. Diện tích tăng, thâm canh với mật độ dày, kéo theo lượng phân bón và thuốc BVTV đổ xuống đất ngày càng lớn. Trong khi đó, diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ mới chỉ đạt khoảng 15% tổng diện tích, với 4.293 ha cam, chè được chứng nhận, một tỷ lệ còn rất khiêm tốn.
Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh, nhiều nông dân vẫn sản xuất theo kiểu tự phát. Hễ thấy sâu bệnh là dùng thuốc, phun nhiều hơn khuyến cáo để "phòng bệnh hơn chữa bệnh". Họ chỉ quan tâm đến năng suất, lợi nhuận trước mắt mà chưa nghĩ đến sức khỏe bản thân, người tiêu dùng và trách nhiệm với chất lượng nông sản. Một nguyên nhân nữa là giá nông sản an toàn chưa chênh lệch nhiều so với sản xuất truyền thống, đầu ra không ổn định, khiến người dân chọn phương án chi phí thấp nhất.
Đồng chí Hà Đình Đạt, Phó Chủ tịch Thường trực UBND xã Tri Phú chia sẻ: Đại đa số nông dân sử dụng thuốc BVTV theo sự hướng dẫn của chủ cửa hàng phân bón, thuốc BVTV. Vì vậy, để việc sử dụng thuốc BVTV của nông dân đạt hiệu quả cao, giảm dư lượng trong nông sản thì người bán phân bón, thuốc BVTV phải được đào tạo kỹ và hiểu rõ về sản xuất an toàn. Gần đây, nhận thức của người dân về sản xuất an toàn đã có những thay đổi. Do đó, những mô hình sản xuất an toàn, sản xuất hữu cơ cần được nhân rộng để người dân tiếp cận nhiều hơn nữa vì mục tiêu chung giảm lượng chất thải nguy hại ra môi trường và đảm bảo sức khỏe cho người dân.
Không chỉ riêng Mỹ Lâm hay Tri Phú, ở hầu hết các địa phương trong tỉnh, tình trạng lạm dụng phân bón, thuốc BVTV đang để lại những hệ lụy không nhỏ cho môi trường đất và sức khỏe con người. Đây là vấn đề cần được nhìn nhận thẳng thắn, để tìm ra giải pháp hữu hiệu vì một nền nông nghiệp phát triển bền vững.
(Còn nữa)
Bài ảnh: Nguyễn Đạt, Thanh Phúc, Lý Thu









Ý kiến bạn đọc