Múa dân gian, mạch nguồn chảy mãi
Trên rẻo cao, tiếng khèn Mông quyện vào gió núi; giữa bản Dao, tiếng chuông ngân vang theo từng nhịp bước; dưới mái nhà sàn, những chiếc bát sứ chao nghiêng mềm mại trên tay thiếu nữ Tày… Mỗi vũ điệu không chỉ tôn lên vẻ đẹp hình thể, mà còn chứa đựng ký ức lao động, đức tin linh thiêng và khát vọng của cả cộng đồng. Dẫu ở không gian nào, nghệ thuật múa dân gian vẫn hiện diện đầy sức sống, bền bỉ nối dài mạch nguồn văn hóa các dân tộc xứ Tuyên qua năm tháng.
Điệu múa kể chuyện bản làng
Tuyên Quang là nơi hội tụ 22 dân tộc anh em, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 73,5% dân số. Sự đa dạng ấy đã bồi đắp nên kho tàng văn hóa phong phú, giàu bản sắc; trong đó, múa dân gian là cách cộng đồng lưu giữ ký ức bằng ngôn ngữ hình thể. Được chắt lọc từ lao động, lễ hội, nghi lễ và trao truyền qua thực hành, mỗi bước chân, nhịp tay không chỉ tạo nên vẻ đẹp nghệ thuật, mà còn kể chuyện nguồn cội, gửi gắm ước vọng của bản làng.
![]() |
| Các học viên nhí Trung tâm Nghệ thuật múa Angel biểu diễn tiết mục mang đậm sắc màu văn hóa dân tộc Lô Lô. |
Với người Tày, múa Bát là sự thăng hoa của cái đẹp từ những điều bình dị. Chiếc bát, đôi đũa vốn quen thuộc trong mỗi gia đình được đưa vào điệu múa trở thành đạo cụ mô phỏng quá trình ươm tơ, dệt vải. Những động tác khuấy, gõ, nâng, hạ, hòa cùng bước chân mềm mại vừa tôn vinh sự tảo tần, khéo léo của người phụ nữ, vừa biểu đạt tinh thần gắn kết cộng đồng. Khác với múa Bát mềm mại, tinh tế, các điệu múa của đồng bào Cao Lan lại rộn ràng hơi thở nương rẫy, suối nguồn. Múa Xúc tép, Phát nương - tra hạt hay Chim gâu tái hiện đời sống lao động và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Động tác đưa vợt xuống suối, phát nương, gieo hạt tuy mộc mạc nhưng thể hiện sự cần cù, khéo léo, gửi gắm ước vọng mùa màng bội thu, cuộc sống no ấm của cả cộng đồng.
Với người Dao, mỗi điệu múa gắn với một không gian văn hóa riêng, từ nghi lễ linh thiêng đến những cuộc vui bản làng. Trong Tết nhảy, lễ Cấp sắc, cầu mùa hay rằm tháng Bảy, điệu múa chuông hòa cùng nhịp bước như lời tri ân tổ tiên, Bàn Vương và gửi gắm ước vọng bình an. Nếu múa chuông mang sắc thái trang nghiêm, sâu lắng thì múa bắt ba ba lại tái hiện sinh động cuộc tìm bắt ba ba. Theo nhịp trống, tiếng chiêng, đội hình liên tục biến chuyển, lúc dàn ngang, khi chuyển chéo, đan xen nhịp nhàng, tạo nên vũ điệu khỏe khoắn, giàu tinh thần gắn kết, góp thêm sắc màu độc đáo cho nghệ thuật múa của người Dao.
Trên rẻo cao, tiếng khèn là lời tự tình của người Mông, gửi gắm tình yêu, nỗi nhớ và ước vọng về cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Năm 2015, nghệ thuật khèn của người Mông được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Không chỉ tạo nên âm thanh, cây khèn còn gắn với những vũ điệu dân gian độc đáo, nơi hơi thở, ngón tay và bước chân hòa làm một. Nghệ nhân Thò Chứ Dia (xã Khâu Vai) chia sẻ: “Múa khèn đòi hỏi người học bền bỉ rèn hơi, thuộc bài và phối hợp nhuần nhuyễn từng động tác. Với người Mông, khèn không chỉ là nhạc cụ biểu diễn, mà còn là tiếng nói cội nguồn, nối các thế hệ với ký ức và bản sắc dân tộc”.
Nối nhịp truyền thống
Trong bức tranh văn hóa đa sắc của Tuyên Quang, mỗi dân tộc góp một nhịp điệu, ngôn ngữ hình thể riêng, làm nên diện mạo phong phú của múa dân gian. Bảo tồn và trao truyền những vũ điệu ấy không chỉ là gìn giữ một loại hình nghệ thuật, mà còn là bảo vệ căn cước tộc người và mạch nối bền chặt giữa các thế hệ.
Ra đời năm 2020, Trung tâm Nghệ thuật múa Angel (phường Hà Giang 2) đã trở thành nơi gieo mầm tình yêu nghệ thuật dân gian cho trẻ nhỏ. Mỗi tháng, trung tâm thu hút từ 50 đến100 học viên, độ tuổi từ 3 đến 15; riêng dịp hè có thể lên tới 200 em. Chị Phạm Thị Trang, Chủ nhiệm Trung tâm, chia sẻ: “Trong mỗi buổi học, giảng viên vừa rèn kỹ thuật hình thể vừa giúp các em hiểu đời sống, vẻ đẹp văn hóa của đồng bào qua từng nhịp tay, bước chân. Nhờ đó, mỗi điệu múa trở thành bài học sinh động về cội nguồn, bồi đắp tình yêu, niềm tự hào và ý thức gìn giữ bản sắc cho thế hệ trẻ”.
Tại xã Phú Lương, văn hóa Cao Lan được dòng họ Sầm bền bỉ gìn giữ qua bốn thế hệ. Từ cố nghệ nhân Sầm Ngọc Văn đến Nghệ nhân Nhân dân Sầm Văn Dừn, nghệ nhân Sầm Văn Đạo và lớp con cháu hôm nay, những điệu múa, lời ca truyền thống không ngừng được trao truyền. Năm 2024, tiết mục dân vũ “Tam thanh” do các thành viên trong dòng họ biểu diễn xuất sắc giành Huy chương Vàng tại Hội thi Diễn xướng dân gian văn hóa các dân tộc toàn quốc, ghi nhận xứng đáng hành trình gìn giữ và lan tỏa di sản.
Nếu ở xã Phú Lương, di sản được tiếp nối qua nếp nhà, thì trên rẻo cao Pà Vầy Sủ, tiếng khèn Mông lại ngân xa nhờ sức trẻ và công nghệ số. Người góp phần tạo nên sức lan tỏa ấy là anh Sùng Minh Thành, Chủ nhiệm Câu lạc bộ yêu thích nhạc cụ dân tộc Mông. Ra đời năm 2021 với 55 thành viên, đến nay câu lạc bộ đã quy tụ hơn 100 người, trở thành nơi truyền dạy nghệ thuật thổi, múa khèn và múa Sênh tiền cho thế hệ trẻ. Anh Thành chia sẻ: “Chúng tôi thường xuyên đăng tải video trình diễn lên mạng xã hội. Các trang Facebook, TikTok hiện thu hút hàng nghìn người theo dõi đã mở ra “con đường số” đưa văn hóa Mông đến gần hơn với công chúng, nhất là người trẻ”.
Trên hành trình gìn giữ bản sắc, trường học đang trở thành không gian quan trọng để trao truyền di sản, nuôi dưỡng tình yêu và niềm tự hào trong thế hệ trẻ. Qua mô hình “Trường học gắn với di sản”, dân ca, dân vũ, dân nhạc được đưa vào hoạt động trải nghiệm, ngoại khóa. Đến nay, 100% trường phổ thông trên địa bàn tỉnh tổ chức ngoại khóa về di sản; mỗi năm có hơn 200 lượt nghệ nhân tham gia truyền dạy văn hóa phi vật thể trong nhà trường. Cùng với đó, 395 câu lạc bộ thanh, thiếu nhi tham gia gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa đã hình thành mạng lưới những “hạt nhân” trẻ lan tỏa di sản trong đời sống đương đại.
Qua mỗi thế hệ, dáng múa có thể mang thêm hơi thở mới, không gian thực hành ngày càng rộng mở, nhưng hồn cốt văn hóa vẫn được gìn giữ, trao truyền. Chính sự tiếp nối bền bỉ ấy làm nên sức sống của múa dân gian, để bản sắc các dân tộc Tuyên Quang luôn hiện diện sinh động trong đời sống hôm nay.
Thu Phương











Ý kiến bạn đọc