Cho thuê lại lao động là phương thức sử dụng lao động có tính linh hoạt cao, đồng thời là quan hệ lao động đặc thù với sự tham gia của ba chủ thể: bên cho thuê lại, bên thuê lại và người lao động. Ở những nơi tập trung nhiều khu công nghiệp, doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn và nhu cầu lao động biến động theo đơn hàng, hoạt động này hỗ trợ doanh nghiệp bổ sung nhân lực trong từng thời điểm.
Trước yêu cầu chuyển mạnh phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát, Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 đến hết ngày 28/2/2027) đã quy định không thực hiện các thủ tục cấp, gia hạn, cấp lại và thu hồi giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động. Cơ chế quản lý mới yêu cầu doanh nghiệp ký quỹ 2 tỷ đồng, thông báo hoạt động và chấm dứt hoạt động, thực hiện báo cáo hằng quý; đồng thời tăng trách nhiệm công khai, theo dõi, kiểm tra và giám sát của cơ quan quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, đây là lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro về tiền lương, bảo hiểm xã hội, thời hạn cho thuê lại, công việc được phép cho thuê lại và tình trạng lợi dụng hợp đồng dịch vụ, hợp đồng khoán để che giấu bản chất cho thuê lại lao động. Vì vậy, thời gian đầu thực hiện sẽ gặp một số khó khăn.
Ranh giới giữa cho thuê lại lao động với cung ứng dịch vụ, thuê khoán công việc hoặc gia công trong nhiều trường hợp không rõ ràng. Có hợp đồng mang tên “dịch vụ”, “khoán việc” nhưng người lao động lại làm việc theo sự quản lý, điều hành trực tiếp của doanh nghiệp sử dụng. Đây là một trong những vấn đề khó nhất của hậu kiểm, đòi hỏi cán bộ quản lý phải đánh giá bản chất quan hệ thực tế chứ không chỉ căn cứ tên gọi của hợp đồng.
Hiện nay, dữ liệu phục vụ quản lý còn phân tán, thông tin về đăng ký doanh nghiệp, ký quỹ, bảo hiểm xã hội, biến động lao động, khiếu nại, tranh chấp, tai nạn lao động và xử lý vi phạm đang nằm ở nhiều cơ quan khác nhau. Trong khi đó, bộ máy quản lý được tổ chức theo hướng tinh gọn, không thể tiếp tục kiểm tra dàn trải bằng phương thức thủ công.
Bản chất sự chuyển đổi phương thức quản lý là chuyển “điểm kiểm soát” từ trước khi doanh nghiệp gia nhập thị trường sang quá trình doanh nghiệp thực tế hoạt động, cho nên hậu kiểm chỉ hiệu quả khi cơ quan quản lý có dữ liệu kịp thời, tiêu chí nhận diện rủi ro rõ ràng và cơ chế can thiệp đủ nhanh để bảo vệ người lao động.
Vì thế, mỗi địa phương cần chủ động quản lý đầy đủ các nhóm doanh nghiệp và cập nhật liên tục các thông tin về hoạt động, tiền ký quỹ, số lao động cho thuê lại, bên thuê lại lao động, công việc, thời hạn cho thuê lại, tình hình tham gia bảo hiểm xã hội, sự cố, khiếu nại và kết quả xử lý. Cách làm này giúp khắc phục tình trạng dữ liệu trùng lặp nhưng khó nhìn thấy lịch sử tuân thủ.
Vấn đề cũng rất quan trọng hiện nay là cán bộ thực hiện hậu kiểm cần được bồi dưỡng về kỹ năng nhận diện bản chất quan hệ cho thuê lại lao động, phân biệt với hợp đồng dịch vụ và thuê khoán, đọc dữ liệu bảo hiểm xã hội, đánh giá rủi ro và xử lý vi phạm hành chính. Đồng thời, cần duy trì đường dây nóng, phản ánh trực tuyến và cơ chế tiếp nhận thông tin từ người lao động, doanh nghiệp thuê lại lao động, công đoàn và chính quyền cơ sở. Thông tin phản ánh phải được sàng lọc, xác minh trước khi công khai; tránh biến hậu kiểm thành cơ chế xếp hạng doanh nghiệp khi chưa có căn cứ pháp lý rõ ràng.
Bộ Nội vụ cần sớm ban hành quy trình hậu kiểm thống nhất về hoạt động cho thuê lại lao động, kèm theo bộ tiêu chí phân loại rủi ro, hướng dẫn cụ thể về tiêu chí phân biệt cho thuê lại lao động với cung ứng dịch vụ, thuê khoán công việc, gia công. Khẩn trương xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp cho thuê lại lao động và có cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quản lý liên quan. Cần quy định chuẩn dữ liệu chung để các địa phương có thể triển khai ngay và kết nối thuận lợi về sau.











Ý kiến bạn đọc