Tiếng việt | English

“Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta”

- Trên những chuyến hành trình của thi ca, tác phẩm viết về Bác trải dài theo năm tháng. Sau Tố Hữu là nhà thơ viết nhiều và thành công nhất về Bác, có cả một đội ngũ sáng tác tiếp bước. Chảy theo mạch nguồn ấy, các tác giả ở Tuyên Quang say sưa viết về Người, trọn vẹn một cảm xúc thiêng liêng, thành kính!

Đối với văn nghệ sỹ, Bác tựa như ngọn nguồn của suy tưởng, bồi đắp, dẫn dắt và soi sáng: “Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta/Ta bỗng lớn ở bên Người một chút” (Tố Hữu). Nhân cách lớn của Người hẳn nhiên có sức hút kỳ lạ với bất cứ ai, bất cứ nhà thơ nào. Và viết về Người là một dòng chảy bất tận, không bao giờ vơi cạn trong trang thơ xứ Tuyên. Điển hình như: “Kỷ niệm về thăm Tân Trào”, “Trường ca Bác Hồ”,  “Di chúc Bác Hồ” của Thái Thành Vân; trường ca “Tuyên Quang làm theo di chúc Bác Hồ”, “Bác Hồ ở Tân Trào” của Ngọc Hiệp, “Đưa em về Kim Quan”, “Thơm mãi cánh hoa Mộc Lan” của Lê Na... Mỗi bài thơ một giọng điệu, một cảm xúc riêng, tất cả gộp thành một tòa sen ngát hương dâng lên Người.

Nhà thơ Ngọc Hiệp và sinh viên Khoa Văn Truyền thông, Đại học Tân Trào
trao đổi về thơ viết về Bác Hồ.

Tuyên Quang đã vinh dự và tự hào có nhiều địa điểm được chọn làm nơi ở, làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh như: Tân Trào, Làng Sảo, Lũng Tẩu, Vực Hồ, Kiên Đài, Kim Bình, Kim Quan, Hùng Lợi... Trong nhiều tác phẩm, tác giả ở Tuyên Quang viết về Người với nỗi niềm thương nhớ, kính yêu vô hạn. Bài thơ “Ngược dòng sông Đáy” của cố tác giả Gia Dũng được viết tháng 5-1990 là cảm xúc thành kính với vị Cha già dân tộc.

Với giọng điệu êm đềm, nhẹ nhàng, thể thơ 7 chữ, Gia Dũng đưa độc giả hòa mình vào không gian yên bình của vùng sông nước bao la. Nơi mà hơn 40 năm về trước, Bác đã dạo thuyền và cảm tác bài thơ Đi thuyền trên sông Đáy. Lời thơ dào dạt, vỗ về gợi bao xúc động: “Thuyền con ngược mãi lên sông Đáy/Sông vẫn ngàn năm chẳng đổi dòng/Hoa phượng đôi bờ dâng sắc thắm/Nắng vàng như lọc khoảng trời xanh”. Với cách xưng hộ thân mật “con” và “Bác”, ngôn từ trong sáng, lời thơ chậm rãi tựa như lời thì thầm trò chuyện. Giữa khoảng không gian bao la, yên bình, khung cảnh tươi đẹp con lại nhớ đến Người, lòng con bâng khuâng nghẹn ngào.

Đất và con người nơi đây vẫn một lòng nhớ thương Bác, dường như bóng hình, dấu chân ấy vẫn còn thấp thoáng đâu đây. Những câu hỏi tu từ dồn dập xuất hiện thể hiện sự nhớ thương tha thiết: “Đâu con thuyền nhỏ chiều khoan nhặt/Đâu ánh trăng nghiêng vàng lấp lánh/Khúc nào soi bóng Bác xa xưa...”. 

Trong không gian mênh mông của nỗi nhớ, niềm thương vô hạn ấy, thi sỹ tìm lại những hình ảnh của Người trong tâm tưởng xa xưa. Một mình ngược “đôi bờ biếc”, đi qua “bản Tày”, ngắm “Ngô vẫy cờ hoa”, “lúa ngậm đòng”. Miên man trong cõi mơ thực ấy, thi sỹ đón nhận, vỡ òa được niềm hạnh phúc lớn lao khi nhìn thấy bóng hình Người: “Chiều trăng sông Đáy mơ mơ hiện/Thuyền Bác mơ màng trong mắt con”.

Trong số các nhà thơ xứ Tuyên, Thái Thành Vân là tác giả có khá nhiều tác phẩm về Bác. Từ tác phẩm đầu tay vào năm 1972 “Kỷ niệm về thăm Tân Trào” đến hàng loạt tác phẩm “Lời thề”, “Về viếng Lăng Bác”, “Trường ca Bác Hồ”... đều khiến độc giả xúc động. Đặc biệt bài thơ “Di chúc Bác Hồ” đã không chỉ khẳng định Di chúc của Bác mãi là nguồn sức mạnh tinh thần vô giá mà thêm một lần nữa nói lên niềm tin, tình yêu lớp lớp con cháu dành cho Người.

Thông qua câu thơ khắc họa thành công hình tượng Bác thật gần gũi và thân thuộc. Bằng lối viết thâm trầm, chậm rãi đã toát lên vẻ đẹp là của một nhà yêu nước vĩ đại, luôn thiết tha với nguyện ước cháy bỏng là làm cho dân ta được yên bình, no ấm. Ở Bác luôn gợi lên sự giản dị, thân tình: “Bác hóa thân trong chuyện kể dân gian/Bác gần gũi trong mỗi nhà, mỗi xóm/Suốt đời Bác chỉ một mong ước lớn/Tổ quốc phồn vinh, bè bạn sum vầy”.

Cũng trong mạch nguồn ấy viết về Bác, trường ca “Tuyên Quang làm theo di chúc Bác Hồ” đã thể hiện được trọn vẹn nỗi lòng và tình cảm của nhà thơ Ngọc Hiệp. Viết về Bác, nhà thơ Ngọc Hiệp không thần thánh hóa. Hình tượng của Người hiện lên giản dị và đời thường nhưng cũng vô cùng vĩ đại: “Ông Ké áo chàm như người rừng núi/Cháo bẹ, rau măng bếp lửa nhà sàn/Bác dạy đồng bào thương yêu, đoàn kết/Cần - kiệm, tăng gia cho lúa ngô nhiều”.

Trường ca được chia làm 5 khổ thơ, mỗi khổ thơ toát lên nội dung, tư tưởng khác biệt: Khắc họa nỗi đau của người dân Tuyên Quang khi nghe tin Bác mất; tập trung sức người, sức của kháng chiến chống Mỹ; hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước; người dân Tuyên Quang chung tay xây dựng quê hương, đất nước theo định hướng Chủ nghĩa xã hội. Khổ cuối tác giả nêu ra những định hướng phát triển trong tương lai: “Ta lại đi tiếp cuộc trường chinh/Có Đảng quang vinh đang dẫn dắt/Có hành trang: Di chúc của Bác/Hướng tương lai phía trước đang chờ”.

Nhà thơ Cu Ba Phêlich Pita Rôđơrighết từng viết: “Hồ Chí Minh - tên Người là niềm thơ” - hình ảnh của Người là ánh sáng, niềm tin trở thành đề tài thiêng liêng, thành kính trong tâm hồn các văn nghệ sỹ. Và khi đọc lại những thi phẩm ấy, vẻ đẹp nhân cách vĩ đại của Người lại tỏa sáng, soi rọi trên con đường chúng ta đi.

Giang Lam

Tin cùng chuyên mục