Giảm thuế xăng dầu về 0 đồng: Tạo dư địa hỗ trợ nền kinh tế
Việc điều chỉnh các sắc thuế đối với xăng dầu về mức 0 đồng trong thời gian ngắn được xem là giải pháp mạnh, kịp thời của Chính phủ và Quốc hội nhằm giảm áp lực chi phí, hỗ trợ phục hồi sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, chính sách này cũng đặt ra không ít thách thức đối với cân đối thu ngân sách địa phương.
Chính sách mạnh, tác động nhanh
Trong bối cảnh giá xăng dầu thế giới biến động, có thời điểm tăng ở mức cao, ngày 26-3-2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 482/QĐ-TTg, cho phép áp dụng mức thuế đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay trong trường hợp cần thiết vì lợi ích quốc gia. Theo đó, thuế bảo vệ môi trường đối với xăng (trừ etanol), dầu diezel và nhiên liệu bay được điều chỉnh về 0 đồng/lít; xăng dầu thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng vẫn được khấu trừ thuế đầu vào; thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng cũng giảm về 0%.
Tiếp đó, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã thống nhất thông qua Nghị quyết giảm thuế đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay với mức giảm sâu nhất từ trước đến nay. Theo đó, thuế bảo vệ môi trường, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng đối với xăng dầu đều được điều chỉnh về 0 đồng trong thời gian từ ngày 16-4 đến hết ngày 30-6-2026 tạo hành lang pháp lý đồng bộ để triển khai trên phạm vi cả nước.
![]() |
| Hoạt động kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh ổn định, giá bán giảm góp phần hỗ trợ người dân, doanh nghiệp. |
Đây là quyết định mang tính cấp bách, được đưa ra trong bối cảnh giá năng lượng thế giới tiếp tục biến động khó lường, gây áp lực lớn lên chi phí sản xuất, vận tải và đời sống người dân. Việc “cắt” đồng loạt các sắc thuế cấu thành giá xăng dầu đã giúp hạ nhiệt mặt bằng giá nhiên liệu trong nước và tạo hiệu ứng lan tỏa đến nhiều lĩnh vực kinh tế khác.
Ông Nguyễn Hữu Thập, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang, chia sẻ: Khi chi phí nhiên liệu giảm, các doanh nghiệp vận tải, sản xuất, xây dựng… sẽ có điều kiện giảm giá thành, nâng cao sức cạnh tranh. Đặc biệt, đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, những đối tượng chịu tác động trực tiếp từ biến động chi phí, chính sách này được xem là “liều hỗ trợ kịp thời”, giúp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ở góc độ doanh nghiệp trực tiếp kinh doanh xăng dầu, ông Vũ Trọng Trung, Chủ tịch Công ty TNHH MTV Petrolimex Tuyên Quang cho biết, việc giảm thuế giá trị gia tăng về 0% đã giúp doanh nghiệp cải thiện dòng tiền, ổn định hoạt động kinh doanh. Khi thuế được điều chỉnh, giá bán lẻ tại các cửa hàng cũng giảm tương ứng, qua đó lợi ích được chuyển trực tiếp đến người tiêu dùng, góp phần kích thích nhu cầu và hỗ trợ thị trường phục hồi trong ngắn hạn.
Từ thực tế đó có thể thấy, tác động của chính sách không dừng ở việc giảm chi phí cho doanh nghiệp xăng dầu mà còn lan tỏa sang nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Mặt bằng giá đầu vào được kiểm soát góp phần ổn định giá hàng hóa, hỗ trợ sức mua và tạo thêm dư địa cho tăng trưởng kinh tế trong quý II và nửa đầu năm 2026.
Áp lực thu ngân sách
Bên cạnh những tác động tích cực, chính sách giảm thuế xăng dầu cũng làm giảm nguồn thu ngân sách Nhà nước. Theo tính toán của ngành Thuế, việc áp dụng mức thuế 0 đồng đối với xăng dầu khiến thu ngân sách trên địa bàn tỉnh giảm khoảng 40 tỷ đồng mỗi tháng. Tính chung trong thời gian thực hiện chính sách, từ cuối tháng 3 đến hết tháng 6-2026, mức giảm thu là đáng kể, tạo áp lực không nhỏ đối với nhiệm vụ thu ngân sách địa phương.
Áp lực này càng rõ khi năm 2026, ngành Thuế tỉnh Tuyên Quang được giao nhiệm vụ thu ngân sách 6.892 tỷ đồng. Trong bối cảnh nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp tục được triển khai, yêu cầu đặt ra là vừa đảm bảo hoàn thành dự toán thu, vừa không làm gia tăng gánh nặng cho người nộp thuế.
Đồng chí Hoàng Thanh Phong, Phó Trưởng Thuế tỉnh Tuyên Quang cho biết: ngành Thuế xác định triển khai đồng bộ các giải pháp theo hướng “nuôi dưỡng nguồn thu đi đôi với tăng cường quản lý”. Trọng tâm là bám sát từng lĩnh vực, từng nhóm đối tượng để tổ chức thu phù hợp với diễn biến thực tế. Cụ thể, đối với hộ, cá nhân kinh doanh, cơ quan Thuế tiếp tục triển khai chương trình “đồng hành cùng hộ kinh doanh”, hỗ trợ kê khai, sử dụng hóa đơn điện tử, từng bước đưa hoạt động vào nền nếp, minh bạch; qua đó vừa tạo thuận lợi cho người nộp thuế, vừa hạn chế thất thu.
Đối với doanh nghiệp, nhóm chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu, ngành Thuế tăng cường rà soát, phân tích dữ liệu kê khai để kịp thời phát hiện rủi ro, nhất là trong các lĩnh vực còn dư địa thu như xây dựng cơ bản tư nhân, chuyển nhượng bất động sản, hoạt động vãng lai và thuế nhà thầu. Việc quản lý không dừng ở hậu kiểm mà được thực hiện theo hướng theo dõi ngay từ phát sinh, bảo đảm thu đúng, thu đủ, hạn chế tình trạng bỏ sót nguồn thu.
Song song với đó, công tác quản lý nợ thuế được triển khai theo hướng phân loại cụ thể từng khoản nợ, từng nhóm đối tượng để áp dụng biện pháp xử lý phù hợp. Những khoản nợ có khả năng thu được tập trung đôn đốc, cưỡng chế theo quy định; đối với các khoản nợ khó thu, kéo dài, cơ quan Thuế phối hợp với chính quyền địa phương để xác minh, xử lý dứt điểm, tránh phát sinh nợ mới.
Những giải pháp này nhằm tạo thế cân bằng, vừa đảm bảo mục tiêu thu ngân sách trong điều kiện hụt thu, vừa không làm gián đoạn quá trình phục hồi sản xuất kinh doanh. Đây cũng là cơ sở để ngành Thuế tỉnh phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách năm 2026 với dự toán 6.892 tỷ đồng trong điều kiện nhiều yếu tố tác động đan xen.
Bài, ảnh: Hải Hương










Ý kiến bạn đọc