Mỏ than Tuyên Quang
Người Tuyên Quang không phải ai cũng biết ở thị xã Tuyên Quang xưa từng có một mỏ than. Đây là nơi thực dân Pháp đã có mặt từ những năm hai mươi của thế kỷ trước, khai thác khoáng sản lấy lợi nhuận, bóc lột hàng nghìn công nhân; cũng là nơi nhen nhóm phong trào của chi bộ cộng sản đầu tiên của tỉnh.
![]() |
| Sơ đồ Mỏ than Tuyên Quang (trong sách Địa chí Tuyên Quang). |
Công ty vô danh than Tuyên Quang
Cuốn Địa chí Tuyên Quang, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2014 có đoạn: “Gần tỉnh lỵ Tuyên Quang ven sông Lô về phía Tây có một bể than. Than ở đây được xếp vào loại than non. Người Pháp đã không bỏ qua việc khai thác than ở Tuyên Quang”.
Chi tiết hơn, cuốn Công nghiệp than Việt Nam của Cao Văn Biền, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 1998 cho biết, bến bốc than bên bờ sông Lô phía bắc tỉnh lỵ Tuyên Quang. Thời ấy, việc khai thác than chưa được nhiều, song công nghệ khai thác khoáng sản theo kiểu châu Âu đã được du nhập khiến Tuyên Quang cũng có mặt trong nhiều hội chợ ở Hà Nội và ở Pháp.
Theo các tài liệu của người Pháp, thì bể than Tuyên Quang có tên nhượng địa là Alice nhượng cho Ch. Đuybrơin ngày 18 tháng 2 năm 1921. Sau đó, ngày 12 tháng 11 năm 1924 đã ra đời công ty vô danh than Tuyên Quang, với số vốn ban đầu là 800 nghìn franc. Bốn năm sau (1928), vốn của công ty này đã lên tới 8 triệu franc. Năm 1937, sản lượng đạt 20.306 tấn.
Than Tuyên Quang chủ yếu được tiêu thụ và dùng trong nội địa để chạy tàu. Điều quan trọng đối với lịch sử là mỏ than Tuyên Quang đã tạo nên một khối lượng công nhân mỏ ngay sát tỉnh thành, gồm 600 người (theo số liệu năm 1928).
Theo cuốn Lịch sử Đảng bộ thị xã Tuyên Quang (thời kỳ 1940 - 2008), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2009, công nhân mỏ than bị thực dân Pháp bóc lột tàn bạo, phải làm việc 12 giờ mỗi ngày trong điều kiện khắc nghiệt, luôn bị đe dọa bởi các tai nạn như sập hầm, cháy ga. Như lò cai Bộc đã có 6 người chết do nổ ga, lò cai Luông có 2 người chết và 25 người bị thương do sập hầm.
Một tổ công nhân có 20 người, mỗi ngày phải khai thác, vận chuyển lên mặt đất 40 goòng than, tức khoảng 20 tấn than. Định mức cao, nên thường mỗi công nhân chỉ đạt 15 đến 16 công một tháng. Trừ tiền thuê nhà, tiền điện, tiền nước, tiền cúp phạt, chi phí thương tật, ốm đau, một phần tiền lương bị trích lại trả chi phí dầu đèn, dụng cụ làm mỏ, nên công nhân phải đi vay gạo ngữ (đong gạo chịu tiền lãi suất cao mỗi ngày 1 đồng phải trả lãi 1 xu). Do vậy, đến kỳ lĩnh lương, người công nhân chỉ còn hai bàn tay trắng. Thực tế, họ đã phải làm không công cho chủ mỏ. Nhân phẩm công nhân bị chà đạp, thường xuyên bị đánh đập, cúp phạt. Vợ con công nhân bị cai chủ mỏ dọa nạt, hãm hiếp. Nhiều gia đình lâm vào cảnh tủi khổ, bi kịch không lối thoát.
Nơi Đảng chọn xây dựng cơ sở cách mạng
Cũng theo cuốn Lịch sử Đảng bộ thị xã Tuyên Quang (thời kỳ 1940 - 2008), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2009; tháng 6 năm 1937, đồng chí Hoàng Văn Lịch được Đảng giao nhiệm vụ về Tuyên Quang xây dựng cơ sở cách mạng. Đồng chí vào làm ở mỏ than thị xã Tuyên Quang, tuyên truyền, giác ngộ cho công nhân về tinh thần yêu nước, ý thức về sứ mạng lịch sử của giai cấp công nhân, đường lối đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống thực dân phong kiến.
Cuối năm 1937, đồng chí Hoàng Văn Lịch đã tuyên truyền vận động công nhân mỏ than lập hội Ái hữu, sau đó lập tổ chức đoàn thanh niên dân chủ gồm các công nhân trẻ ưu tú trong mỏ than, làm nòng cốt cho phong trào ở thị xã.
Ngày 20 tháng 3 năm 1940, chi bộ Mỏ than - chi bộ Cộng sản đầu tiên của Tuyên Quang được thành lập, làm nòng cốt lãnh đạo phong trào cách mạng tại Tuyên Quang. Sau đó là sự ra đời của đội tự vệ Mỏ than, làm nhiệm vụ canh gác, bảo vệ các cuộc họp bí mật của chi bộ, theo dõi và làm vô hiệu hóa hoạt động của bọn mật thám.
![]() |
| Tiểu thuyết Lầm than của nhà văn Lan Khai xuất bản năm 1938 là một sự kiện lớn của đời sống văn học thời đó. |
Mỏ than vào văn chương
Tiểu thuyết Lầm than được thai nghén từ Tuyên Quang (1929 - 1933), vượt qua lưới kiểm soát của nhà cầm quyền Pháp, đến năm 1938 mới được xuất bản, trở thành một sự kiện lớn của đời sống văn học thời đó.
Lầm than được cho là cuốn tiểu thuyết đầu tiên ở Việt Nam viết về người công nhân, vẽ lên bức tranh tố cáo chế độ áp bức bóc lột của thực dân Pháp và tay sai đối với người lao động và sự xuất hiện chân dung đẹp đẽ của những người chiến sỹ đi gieo mầm cách mạng chuẩn bị cho một cuộc đổi đời. Trần Huy Liệu trong Lời giới thiệu cuốn sách đã cho rằng cuốn sách giác ngộ người đọc về nạn bóc lột “Các bạn đọc xong quyển truyện này, nếu thấy mình bỗng đầy lòng căm tức đối với bọn sống sung sướng bằng mồ hôi nước mắt của kẻ khác và cũng đầy lòng đau xót đối với người sống một cách khổ nhục đem mồ hôi nước mắt nuôi béo kẻ khác thì tức là người viết ra nó đã đạt được ý nguyện của mình rồi”.
Nhà văn Hải Triều trong một bài trên báo Dân Tiến số 1 (ngày 27-10-1038) đã đánh giá cao đề tài tư tưởng và phương pháp sáng tác của Lan Khai: “Tôi thấy tác giả của nó đã mạnh dạn tiến lên trên con đường sáng sủa mà đầy cả chông gai, con đường bênh vực cho giai cấp cần lao, con đường của Chủ nghĩa xã hội. Điều ấy là một điều đáng ghi nhớ trong lịch sử văn học của xứ này”.
Nhà văn Vũ Ngọc Phan trong sách Nhà văn hiện đại (1942) đã viết “Lầm than của Lan Khai là một cuộc đời đau khổ và thê thảm của phu mỏ, một hạng lao động đã cạn rất nhiều mực của các nhà văn trên thế giới”, “tuy là một tiểu thuyết nhưng mọi việc đều thiết thực không khác gì những việc trong một thiên phóng sự”.
Tiến sỹ Trần Mạnh Tiến trong bài viết “Nhìn lại Lầm Than của Lan Khai” Tạp chí Nghiên cứu văn học số 1/2004 đã viết “Lầm than có thể xem là một trong những bản án đanh thép tố cáo chế độ thực dân xâm lược Pháp trên đất nước ta thế kỷ XX. Và như vậy, Lầm than tự nó trở thành một tượng đài kỷ niệm về cuộc đời thợ mỏ trong thời kỳ lịch sử “khổ nhục nhưng vĩ đại” của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.
Phần Phụ lục trong sách “Lầm than” đã dẫn ở trên, có đoạn hồi ký của bà Hà Thị Minh Kim (1909 - 1999, quả phụ của nhà văn Lan Khai) kể lại “...Tại Tuyên Quang, gia đình tôi sống trong căn nhà lá năm gian hai trái, xóm Gốc Nhội, gần đình Xuân Lôi, tại khu phố Xuân Hòa cùng với nhiều gia đình thợ thuyền và phu mỏ từ nhiều tỉnh miền trung và miền xuôi tới đây kiếm sống. Đây là khu phố thấp bên bờ sông Lô năm nào cũng ngập lụt, kề với mỏ than kéo dài từ chân núi Cố đến gần bến Tân Hà, phía bên kia sông là mỏ kẽm Tràng Đà...
... Những người trong truyện như ông già Tị, anh Thuật, chị Tép, bác Dương, chú Lộc, chú Thông, cụ Mẫn, anh Nhỡ kể cả mấy người trong Hội kín đi tuyên truyền giác ngộ phu than, đều là những người quen thuộc hay lui tới gia đình nhờ thầy mẹ tôi trị bệnh. Riêng cô Tép tên thực là chị Tiên, sinh ở Kim Xuyên nhưng gốc mạn Hải Dương, anh Thuật tên là Thật, người vùng Nam Định, chú Lộc, chú Thanh là người xứ Thanh... Anh Thật sau vướng bệnh lao mất sớm, chị Tiên mãi tới năm 1965 còn thăm hỏi tôi”.
Như vậy, Mỏ than và cuộc sống của công nhân mỏ chính là thực tiễn sinh động để nhà văn Lan Khai viết tiểu thuyết Lầm Than nổi tiếng. Những tư liệu đã dẫn về mỏ than Tuyên Quang cùng các nhận xét của những người đương thời và hồi ký của phu nhân nhà văn sẽ giúp nhiều người hết nhầm tưởng cuốn tiểu thuyết Lầm than là viết về vùng than Quảng Ninh.
Duy anh












Ý kiến bạn đọc