Sắc màu thi ca xứ Tuyên

09:00, 10/01/2026

Trên dải đất Tuyên Quang điệp trùng núi biếc, văn chương cũng tựa như dòng phù sa cần mẫn, ngày đêm bồi đắp nên tầng văn hóa sâu thẳm cho tâm hồn người miền núi. Vườn thi ca xứ Tuyên là bản hòa ca của những sắc màu riêng biệt. Dù mộc mạc hay kiêu sa, dù cổ điển hay hiện đại, tất cả đều đang cần mẫn tỏa hương. Chính những “mùa hoa không mỏi” ấy đã và đang bồi đắp nên dòng phù sa văn hóa mỡ màu, để vẻ đẹp của đất và người Tuyên Quang mãi ngân vang cùng dòng chảy thời gian.

Nhà thơ Tạ Bá Hương trao đổi 
kinh nghiệm sáng tác thơ với 
các nhà thơ và độc giả yêu thơ.
Nhà thơ Tạ Bá Hương trao đổi kinh nghiệm sáng tác thơ với các nhà thơ và độc giả yêu thơ.

Hương sắc cội nguồn

Nếu ví thơ ca xứ Tuyên là một khu vườn hương sắc thì thế hệ những nhà thơ đi trước chính là những cội mai, gốc tùng, là những loài hoa đã “trầm tích” vào thời gian để tỏa hương vĩnh cửu.

Bước vào khu vườn ấy, ta bắt gặp đầu tiên là vẻ đẹp nguyên sơ, hồn hậu của những đóa hoa rừng. Tiêu biểu là Hoàng Quang Trọng, Hà Phan, Trần Hoài Quang - những cây bút đã mang trọn vẹn bản sắc văn hóa quê hương vào trang viết, nơi tiếng thơ bật ra chân chất như tiếng nói, tự nhiên như hơi thở của người miền núi. Những vần thơ ấy không cần gọt giũa cầu kỳ mà vẫn thấm đẫm cái tình, cái bụng của người vùng cao, mộc mạc như cây cỏ nhưng sức sống lại vô cùng bền bỉ.

Hòa cùng sắc màu ấy là nhà thơ Mai Liễu, một “cây nghiến” sừng sững giữa đại ngàn. Với “Suối làng” hay “Đầu nguồn mây trắng”, ông chắt chiu từng giọt văn hóa Tày để “nhuộm” xanh trang viết. Thơ Mai Liễu tựa dòng suối mát lành len lỏi qua khe đá, là loài hoa thuần khiết bám rễ sâu vào tâm thức cộng đồng.

Nhà thơ Hùng Đình Quý, người con của núi cao, người đã thắp lên “Ánh đuốc trên đỉnh núi Vần Chải”. Thơ ông không cầu kỳ, mà chân thực như lời ăn tiếng nói, như “Tiếng mõ gọi” trâu về bản, như khát vọng đổi đời trong “Người Mông có chữ”. Đọc thơ ông, ta thấy cả một trời thương nhớ lãng mạn: “Nếu trời trong đất yên/ Anh lại thắng bộ đồ mới nhất trở lại hai đứa gặp nhau…”.

Nhưng vườn thơ xứ Tuyên đâu chỉ có dòng chảy êm đềm, ở đó còn có những loài hoa nở trên đá xám, kiên cường và đầy kiêu hãnh trước thăng trầm lịch sử. Đó là Cao Xuân Thái, người được mệnh danh là “nhà thơ của đá”. Ông đã tạc vào văn đàn dáng đứng của con người nơi biên viễn, thấu hiểu đến tận cùng nỗi nhọc nhằn của đá và người. Trong bài thơ “Tổ quốc nơi cực Bắc”, những câu thơ của ông như được đục đẽo từ đá xám, gồ ghề mà thấm đẫm mồ hôi: “Ưu tư hốc đá mỗi ngày/Giọt mồ hôi đã thấm đầy tháng năm/Đêm mơ ba thước đất bằng...”.

Song, chính từ sự khô cằn ấy, tâm hồn thi sĩ vẫn nở ra những bông hoa tình yêu nồng nàn. Với bài thơ “Đàn môi”, người đọc lại thấy một Cao Xuân Thái thật khác dìu dặt và say đắm. Tiếng đàn môi trong thơ ông không chỉ là âm thanh, mà là tín hiệu của trái tim đang rực lửa yêu đương: “Chả nhầm dòng suối hát/ Âm thanh của núi rừng/Cháy trên môi khao khát...”.

Đó còn là khí phách của Nguyễn Khắc Đãi với “Hòn đá thề”, là cái nhìn biên cương hào hùng trong “Một miền Tổ quốc” của Mã Giang Lân, hay niềm vui rạng rỡ của ngày mới trong “Đường vào Bắc Mê” của Hoàng Định. Những vần thơ ấy như những đóa hoa bất tử, minh chứng cho sức sống mãnh liệt của con người trên mảnh đất này. Người yêu thơ sao có thể quên “Ngõ hoa vàng” của Gia Dũng, một lối đi riêng đưa ta vào thế giới của vẻ đẹp cổ điển, sang trọng và giàu nhạc tính. Hay một Phùng Đức Thuấn bồi hồi, đắm đuối với quê hương thứ hai: “Đời đã quá tuổi xuân náo nức/Vẫn bồn chồn Tuyên Quang có em!”.

Ở những góc trầm lắng hơn, ta bắt gặp Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Tuấn, Trần Khoái, Lê Na, Ngọc Hiệp, Nguyễn Hữu Dực... như những loài hoa đêm lặng lẽ tỏa hương chiêm nghiệm. Trong bản hòa sắc rực rỡ ấy còn có Đoàn Thị Ký, Tiểu Vũ, Kim Thu. Trong bài “Nửa vòng bông gạo”, tác giả Đoàn Thị Ký hiện thân trọn vẹn là đóa Mộc Miên tháng Ba, một loài hoa cháy hết mình, vừa sắc sảo, kiêu sa lại vừa nồng nàn, đa cảm.

Làn gió mới và hương sắc đương đại

Nếu thế hệ đi trước là những cội rễ bám sâu vào trầm tích văn hóa, thì thế hệ nối tiếp của thi ca Tuyên Quang hôm nay lại như những luồng gió mới, mang theo hương sắc của sự cách tân, đa dạng và đầy cá tính.

Nổi bật trong sự chuyển mình ấy là Đinh Công Thủy - một gương mặt tiêu biểu cho tư duy thơ đương đại. Không chọn lối đi mòn, thơ Đinh Công Thủy là hành trình quay vào bên trong để đối thoại với bản thể. Trong tập “Giấc mơ hạt thóc”, anh viết những câu thơ đầy ám ảnh, như một sự truy vấn về nguồn cội: “Hạt thóc mơ về cánh đồng/Cánh đồng mơ về mùa gặt/Tôi mơ về tôi/ Trong hình hài hạt thóc/Lăn lóc giữa đời thường...”.

Hình ảnh “hạt thóc” trong thơ anh không chỉ là lương thực, mà là ẩn dụ cho sự sinh tồn, cho thân phận con người nhỏ bé nhưng bền bỉ. Thơ anh kiệm lời, giàu tính triết lý như một loài hoa gai góc nhưng tỏa hương sâu sắc, buộc người đọc phải dừng lại để ngẫm ngợi.

Góp vào khu vườn đương đại một gam màu nâu trầm của đất là Tạ Bá Hương. Anh không chọn làm loài hoa rực rỡ chốn phồn hoa mà thủy chung, kín đáo như đóa hoa ngâu, hoa bưởi vương vấn nơi góc vườn quê mẹ. Những vần thơ trong “Tôi yêu tấc đất quê nhà” hay “Đôi mắt đợi” chính là tiếng lòng thầm thì của người con nặng nợ với quê hương, giản dị mà thấm thía, như mạch nước ngầm mát lành chảy mãi giữa dòng đời hối hả.

Bên cạnh đó, vườn thơ xứ Tuyên bỗng trở nên mềm mại, đằm thắm lạ thường với sự xuất hiện của một “dàn đồng ca” các nữ thi sĩ. Họ mang đến những thanh âm trong trẻo, tinh tế và giàu trắc ẩn. Đó là Huyền Minh, với các tập thơ “Viết trên Cổng trời”, “Vũ khúc” chị dành một phần máu thịt để viết về vùng cao cực Bắc. Thơ Huyền Minh là sự rung cảm tinh tế trước thiên nhiên hùng vĩ và kiếp người gian khó: “Đá dựng thành tai mèo sắc lẹm/Cắt ngang trời chiều tím ngắt/Em gùi mây xuống chợ/Gùi cả nỗi niềm đá núi mênh mang...”. Là Bùi Mai Anh với Người nay, Lời hòn Trống; Vương Huyền Nhung với Suối đôi, Miền Soọng cô; Quỳnh Nga với Tìm về chợ phiên, Lưng chiều; Trịnh Thứ với Mùa thổ cẩm thao thức, Ngôi nhà sàn cũ... Gần đây có Thèn Hương với tập thơ Giấc mơ của cỏ - là sự giao hòa, là điểm kết nối giữa con người với thiên nhiên, đồng cảm, xót xa trước những giấc mơ đầy chính đáng của con người, của những người phụ nữ vùng cao. Chị đã hình tượng hóa số phận con người, mà cụ thể là những cô bé vùng cao với nhiều sắc tộc Kinh, Tày, Mông, Dao, Pà Thẻn, Sán Dìu… đã sống, đã tồn tại, đã ước mơ, đã thất bại, đã yêu thương như thế nào trên các bản làng xứ Tuyên sương giăng và núi đá.

Và trong khu vườn đa thanh ấy, ta còn  bắt gặp một  góc nhỏ trong veo, thánh thiện của Nguyễn Quỳnh Mai. Với quan niệm “Đọc, viết là một phần tự nhiên trong đời”, chị chọn cho mình lối đi riêng với thơ thiếu nhi. Thơ Quỳnh Mai như những giọt sương mai lấp lánh: “Bé gọi nắng về chơi/Nắng nhảy nhót hiên nhà/Mèo con nheo mắt ngó/Tưởng nắng là cuộn len...”.

Nhìn lại hành trình đầy tự hào này, nhà văn Trịnh Thanh Phong - nguyên Chủ tịch Hội VHNT Tuyên Quang chia sẻ: “Thơ ca xứ Tuyên có một sự tiếp nối ngoạn mục tựa như quy luật sinh tồn của rừng già. Nếu lớp cha anh là những tảng đá núi lừng lững, mang vẻ đẹp của sự trầm tích và chiêm nghiệm, thì lớp trẻ hôm nay là những chồi non, những loài hoa biết bám vào đá núi để vươn lên đón nắng. Họ không lặp lại cái bóng của người đi trước mà dũng cảm tìm cho mình một hương sắc riêng. Chính sự cộng hưởng giữa cái thâm trầm của đá và sự biến ảo của gió ấy đã tạo nên một hệ sinh thái thi ca phong phú, giữ lửa cho văn đàn tỉnh nhà luôn ấm nóng”.

Giang Lam


Ý kiến bạn đọc


Cùng chuyên mục
Nguyễn Du - Đỉnh cao văn hóa Việt Nam
Kỷ niệm 260 năm Ngày sinh Đại thi hào - danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du, phóng viên Báo Tuyên Quang có cuộc phỏng vấn PGS.TS. Phạm thị Phương Thái (ảnh bên), Nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên về tầm vóc và những giá trị quý báu mà Đại thi hào Nguyễn Du để lại cho dân tộc.
27/12/2025
Lẩy Kiều nét văn hóa độc đáo
Đại thi hào Nguyễn Du với Truyện Kiều đã tạo nên áng văn chương mang giá trị phổ quát toàn nhân loại, mang mẫu số chung của văn hóa toàn cầu. Một trong những minh chứng sống động nhất cho tầm vóc ấy chính là lẩy Kiều - nghệ thuật dùng câu thơ trong truyện Kiều để ứng đối, cảm thán, bình phẩm, hoặc nói hộ tâm trạng.
27/12/2025
Học cách buông
Cuối năm, khi những ngày ngắn lại và gió lạnh chạm vào từng góc nhỏ của đời sống, tôi bỗng thấy mình sống chậm hơn. Chậm trong bước chân, chậm trong suy nghĩ, và chậm để nhìn lại một năm đã đi qua. Ở khoảng lặng ấy, tôi nhận ra: cuối năm không chỉ là lúc để gom góp, mà còn là lúc để học cách buông.
27/12/2025