Nguyễn Du - Đỉnh cao văn hóa Việt Nam

05:59, 27/12/2025

Kỷ niệm 260 năm Ngày sinh Đại thi hào - danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du, phóng viên Báo Tuyên Quang có cuộc phỏng vấn PGS.TS. Phạm thị Phương Thái (ảnh bên), Nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên về tầm vóc và những giá trị quý báu mà Đại thi hào Nguyễn Du để lại cho dân tộc.

Khu lưu niệm Đại thi hào, Danh      nhân văn hóa Thế giới Nguyễn Du tại xã Tiên Điền, Hà Tĩnh.
Khu lưu niệm Đại thi hào, Danh nhân văn hóa Thế giới Nguyễn Du tại xã Tiên Điền, Hà Tĩnh.

P.V: Thưa PGS.TS. Phạm Thị Phương Thái, là người nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy về văn học trung đại Việt Nam, bà có thể khái quát những nội dung quan trọng nhất về cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp tiêu biểu của đại thi hào Nguyễn Du đối với nền văn học, văn hóa Việt Nam và thế giới.

PGS.TS. Phạm Thị Phương Thái.
PGS.TS. Phạm Thị Phương Thái.

PGS.TS. Phạm Thị Phương Thái: Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du là một đỉnh cao của văn hóa Việt Nam, đồng thời là chứng nhân lịch sử của thời đại đầy biến động cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX. Cuộc đời bể dâu đã giúp ông nhìn thấu sự mong manh của kiếp người và cảm nhận sâu xa nỗi đau của những phận đời bé nhỏ. Chính trải nghiệm ấy hun đúc ở Nguyễn Du một tấm lòng nhân đạo vượt khỏi khuôn khổ thời đại, để từ “mười năm gió bụi” và “những điều trông thấy”, ông kiến tạo nên một di sản văn chương mang tầm vóc đặc biệt.

Điều làm nên giá trị tác phẩm của Nguyễn Du không chỉ là tài năng thi ca bậc thầy mà còn là trái tim luôn hướng về những kiếp người nhỏ bé, đặc biệt là người phụ nữ tài hoa bạc mệnh - những thân phận ông dành cho sự “cảm thông sâu sắc đến lạ lùng” (Hoài Thanh). Trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Du, con người - với phẩm giá, nỗi đau và khát vọng sống luôn là trung tâm. Để diễn đạt trọn vẹn chiều sâu đó, ông đã kiến tạo một thứ ngôn ngữ thơ tài hoa hiếm có: đẹp mà đau, mềm mại mà sắc lạnh; vừa thấm tinh thần vô thường của Phật - Lão, vừa chất chứa bi cảm nhân sinh của một trí thức thời loạn.

Sự hòa quyện giữa tư tưởng nhân văn, tinh luyện nghệ thuật và cảm thức nhân đạo rộng mở đã làm nên những tác phẩm bất hủ như Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh, Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm hay Bắc hành tạp lục... Từ trong di sản ấy, vang lên thông điệp nhân loại muôn đời: thương người, trân trọng phẩm giá con người và không ngừng kiếm tìm vẻ đẹp của nhân tính giữa cõi đời nhiều bão tố.

P.V: Riêng về Truyện Kiều, cá nhân bà có những chiêm nghiệm gì, đặc biệt những ảnh hưởng của Truyện Kiều đối với văn hóa và tâm hồn người Việt?

PGS.TS. Phạm Thị Phương Thái: Vị thế của Nguyễn Du trong văn học Việt Nam, cũng như trong dòng chảy văn học nhân loại, trước hết được xác tín bởi Truyện Kiều. Tác phẩm đã từ lâu được xem như “quốc hồn, quốc túy” của dân tộc, để rồi câu nói của Phạm Quỳnh “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn” trở thành minh chứng cho tầm vóc bền vững của kiệt tác này. Sức hấp dẫn của 3.254 câu lục bát nằm ở tiếng kêu thương về nỗi đau đoạn trường, ở hành trình chịu đựng và vượt thoát của một thân phận tài hoa bạc mệnh.

Từ cuộc đời bị giày vò của Kiều, người đọc nhận ra rằng chính trong những biến cố tưởng như vùi lấp con người, phẩm giá, khát vọng sống và khả năng tự chữa lành lại trở thành điểm tựa giúp họ đứng dậy. Hơn cả một tiếng thương xót, Truyện Kiều đem đến bài học nhân sinh: cách giữ gìn lẽ sống, cách ứng xử và cách vượt qua những giông tố của một đời không phải lúc nào cũng phẳng lặng. Đó cũng là tinh thần của đạo lý Việt Nam: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

Người Việt say mê Truyện Kiều còn bởi hồn cốt dân tộc thấm đẫm trong từng lời thơ, vần điệu. Với kiệt tác này, Nguyễn Du đã “khẳng định niềm tự hào về khả năng biểu đạt của tiếng Việt văn học” (GS. Hoàng Tuệ). Từ vốn ngôn ngữ đời thường của người trồng dâu, trồng đay, ông chọn lựa, mài rũa để tạo nên vẻ phong lưu, đa nghĩa và giàu cảm xúc, đưa tiếng Việt tới đỉnh cao của nghệ thuật cổ điển trong miêu tả cảnh, tả tình, tả nhân vật và đặc biệt diễn biến tâm trạng Thúy Kiều. Tài tình đến mức Phan Ngọc đã thốt lên “Truyện Kiều là cuốn tiểu thuyết của ngàn tâm trạng”.

Đồng thời, chính Truyện Kiều đã hoàn tất và vinh danh thể thơ lục bát, đưa thể thơ dân tộc này lên vị thế mẫu mực, trở thành dấu ấn không thể thay thế trong văn hóa Việt. Có thể nói, Truyện Kiều chính là “thẻ căn cước của dân tộc”, là nơi hội tụ tinh hoa ngôn ngữ, tâm hồn và bản sắc Việt Nam.

Cứ thế, Truyện Kiều đi vào đời sống tinh thần dân tộc một cách tự nhiên, thuận thành và bền bỉ, trở thành một mã văn hóa độc nhất vô nhị của người Việt. Khi vui, người ta lẩy Kiều. Lúc buồn thì ngâm ngợi. Muốn dò đoán số phận, giở Kiều ra bói. Cần diễn đạt điều khó nói, mượn ý Kiều để gỡ hộ lòng mình… Hàng trăm công trình nghiên cứu, bình chú, chuyển thể nghệ thuật trong và ngoài nước đã khẳng định sức sống không vơi cạn của tác phẩm. Truyện Kiều được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ, trở thành một trong những cánh cửa hiếm hoi để thế giới tiếp cận tâm hồn và văn hóa Việt Nam.

Truyện Kiều đã được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ khác nhau với rất nhiều bản dịch.
Truyện Kiều đã được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ khác nhau với rất nhiều bản dịch.

Không dừng lại ở đời sống văn hóa dân gian, Truyện Kiều và di sản Nguyễn Du còn bước ra khỏi biên giới quốc gia để trở thành một “ngôn ngữ mềm” của ngoại giao Việt Nam. Trong nhiều cuộc gặp gỡ và ký kết hợp tác văn hóa, học giả quốc tế coi Truyện Kiều như “cửa sổ tâm hồn Việt Nam”, giúp họ hiểu sâu hơn về lịch sử, tâm lý, nhân bản và bản sắc của dân tộc. Sự xuất hiện của Kiều trong không gian ngoại giao quốc tế cho thấy ảnh hưởng vượt thời gian của Nguyễn Du: từ trang sách đến bàn đàm phán, từ văn chương đến chính trị mềm, tác phẩm đóng vai trò như một “đại sứ văn hóa”, truyền tải thông điệp hòa bình, lòng nhân ái và vẻ đẹp dân tộc.

Từ những đóng góp ấy, Nguyễn Du không chỉ xứng danh đại thi hào dân tộc, mà còn trở thành một biểu tượng văn hóa của lòng nhân ái, của vẻ đẹp tiếng Việt và của tư tưởng nhân văn xuyên thời đại. Ông đưa văn học Việt Nam vươn ra thế giới bằng một ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo và bằng một tấm lòng biết thương người đến tận cùng - một giá trị khiến Nguyễn Du luôn mới, luôn lay động sâu xa đối với hậu thế.

P.V: Nhiều người cho rằng Truyện Kiều là tác phẩm của các thế hệ đã đi qua. Theo bà, điều ấy có đúng với người trẻ hôm nay?

PGS.TS. Phạm Thị Phương Thái: Đây là câu hỏi khiến nhiều người băn khoăn: thế hệ trẻ lớn lên trong thời đại số, với tốc độ sống và hệ giá trị khác biệt, liệu Truyện Kiều còn giữ được chỗ đứng hay không? Tôi cho rằng, Truyện Kiều chưa bao giờ “cũ” - và vẫn được người trẻ tìm đến, chỉ là theo một cách khác. Bởi tác phẩm của Nguyễn Du không chỉ được đọc, mà còn “sống” trong đời sống văn hóa Việt.

Nếu thế hệ trước đọc Kiều qua sách giấy, qua vãn Kiều, qua lời kể của ông bà, thì người trẻ tiếp cận Kiều bằng vô số cánh cửa mới: video tóm tắt trên TikTok, YouTube; phim và cải lương; sân khấu đương đại chuyển thể; minh họa phong cách anime; graphic novel trên Facebook, Instagram; các podcast, talkshow văn học; những bản Kiều được giải mã bằng infographic, meme hay storytelling… Họ không đọc Kiều theo cách “nghi lễ”, mà tiếp nhận tác phẩm theo kiểu đang bước vào một câu chuyện lớn của văn hóa Việt. Chính sự đa dạng này khiến Kiều gần gũi hơn với họ.

Nếu người lớn tuổi yêu Kiều bằng trải nghiệm đời - chiêm nghiệm nhân tình thế thái, chữ hiếu, chữ nghĩa thì người trẻ tiếp nhận Kiều bằng sự đồng cảm cá nhân và nhu cầu tìm kiếm bản sắc. Với họ, Truyện Kiều không chỉ là lẽ đời, mà là câu chuyện về tự do, về tình yêu, về tổn thương tinh thần và hành trình trưởng thành. Thế hệ Gen Z không đọc Kiều như một “khuôn mẫu kinh điển” phải thuộc lòng, mà đọc để tìm những vấn đề rất hiện đại: quyền sống, giá trị bản thân, áp lực xã hội, những tổn thương tinh thần và hành trình chữa lành.

Kiều trở nên gần gũi khi người trẻ thấy trong đó hình ảnh của một con người luôn tìm cách đứng dậy sau đổ vỡ, dám giữ phẩm giá giữa nghịch cảnh và khao khát một cuộc đời được tự quyết. Điều đặc biệt là, càng sống trong thế giới hiện đại, thế hệ trẻ càng nhận ra Truyện Kiều chưa hề lỗi thời.

Những vấn đề Nguyễn Du đặt ra hơn hai thế kỷ trước áp lực cuộc sống, thân phận người phụ nữ, khát vọng sống đúng với mình, sức mạnh vượt qua nghịch cảnh… vẫn chạm tới nỗi niềm của Gen Z hôm nay. Đó là dấu hiệu rõ nhất cho thấy sức sống của một kiệt tác: nói được những điều có tính nhân loại, phổ quát, vượt qua mọi thời đại và thế hệ.

P.V: Trân trọng cảm ơn PGS.TS.


Ý kiến bạn đọc


Cùng chuyên mục
“Vầng trăng khuyết” tỏa sáng
Trong dòng chảy văn học Việt Nam nói chung, tỉnh Tuyên Quang nói riêng, ta dễ bắt gặp những nhân vật không trọn vẹn hình hài nhưng lại rực sáng nội tâm. Họ như “vầng trăng khuyết” - không tròn đầy nhưng đủ sức chiếu lên bầu trời đêm. Và văn chương đã giúp soi tỏ vẻ đẹp ấy, để thấy rằng mất mát không phải dấu chấm hết, mà đôi khi là điểm khởi đầu của một hành trình bứt phá, nơi nghị lực làm nên ánh sáng nhân văn.
29/11/2025
Có một chiều mây trắng
Cuối cùng hắn cũng về đến chân núi và lối mòn về bản. Trời chiều hanh nắng nhưng gió lạnh vẫn cứa vào da. Ngước nhìn lên con dốc đá và những đám mây trắng lượn lờ trên vạt hoa cải vàng rực, hắn bỗng hoài nghi.
29/11/2025
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Á: Khoảnh khắc tôi không thể quên là hình ảnh lực lượng cứu hộ, cứu nạn của Quân đội nhân dân Việt Nam
Không chỉ đơn thuần là tác phẩm tập hợp những khoảnh khắc mang tính sự kiện, mà sách ảnh “80 năm - Một Việt Nam vững tin” còn là hành trình thị giác giàu cảm xúc về con người và đất nước Việt Nam trong dòng chảy lịch sử. Để thấu tỏ sâu hơn về hành trình 80 năm đất nước qua lăng kính nhiếp ảnh, phóng viên Báo Quân đội nhân dân có dịp trao đổi với nghệ sĩ nhiếp ảnh (NSNA) Nguyễn Á.
25/12/2025