Tâm nguyện của mẹ

07:45, 07/03/2026

 1.

Chuyện bắt đầu từ việc bà nội tôi quá coi trọng danh phận.

Ba tôi là con trai độc nhất, lại trưởng họ. Bà nội bảo cưới vợ phải “xem tướng, xét gia thế” cho xứng mặt tổ tiên. Mẹ tôi không đạt chuẩn nào trong mắt bà. Con gái một gia đình từ phía Bắc vào vùng kinh tế mới, chỉ có núi, sỏi đá với nắng gió. Tệ hơn. Cô gái ấy sắc vóc chỉ ở mức coi được, lại học chưa hết cấp hai. Nhiêu đó đã dư để nội phán: không xứng.

Ba tôi yêu mẹ đến mức liều lĩnh. Khi năn nỉ không được, ông chọn cách “gạo nấu thành cơm”. Vô tình bà nội lại có cớ để chì chiết:

“Coi chừng trâu mình mà nghé người ta!”

Ba tôi lập lời thề nếu không cưới được mẹ thì đi tu, hoặc chết. Biết tính con, bà nội miễn cưỡng gật đầu. Đồng ý không có nghĩa đồng thuận. Từ ngày về làm dâu, mẹ sống trong một cuộc xét hỏi không hồi kết. Cái kiểu thở mạnh cũng sai.

Là một thằng cháu, tôi nỡ lòng nào có ý nghĩ ghét bỏ hay công kích nội mình. Nhưng với tư cách đứa con duy nhất của mẹ, tôi xót xa và càng kính yêu hơn nữa người mẹ khốn khổ vô cùng của mình. Tôi cố gắng chui sâu vào phần bên trong cái vỏ khô khốc sắt đá, cố đặt mình vào vị trí nội để tìm lý do thông cảm cho bà. Nhưng bất lực. Cuối cùng, tôi chọn giải thích kiểu tâm linh là do khắc tuổi, khắc tướng, khắc tinh gì gì đó… Tóm lại khắc gì không biết, chỉ biết dù mẹ cố gắng chu toàn tới đâu thì nội cũng tìm ra cái sai của con dâu để nhiếc móc. Chắc vì sự trầm cảm sâu nặng mà cả hai lần mang nặng đẻ đau, mẹ hạ sinh trót lọt nhưng hài nhi vừa khóc oa oa… đã tắt ngấm như bóng điện mới sáng đã bị cháy.

Đã không ưng, giờ càng thêm khó chịu. Ngày nào bà cũng giục ba bỏ gấp bỏ gãy, thứ đàn bà mỗi chuyện đẻ cũng không biết. Ba tôi nói mẹ có tội tình gì mà bỏ? Bà nội vẫn không dừng, cứ đem chuyện lấy vợ điếc đặc, tiệt đường nối dõi ra đục đẽo miết. Khủng hoảng đỉnh điểm khi mẹ sinh ra chị gái tôi. Bà nội như bị giáng một nhát dao:

“Đẻ chi cái thứ đái ngồi!”

Rồi bà nằm vật ra, bỏ ăn bỏ uống. Ba tôi bị dồn vào chân tường. Cuối cùng, ông đồng ý cưới thêm cô Chi xóm bên, lỡ thời nhưng vẫn còn trong diện đẻ được. Mẹ không ở lại làm “chị em cùng chồng” mà bế chị tôi về lại vùng kinh tế mới. Lúc đó, mẹ đã mang thai tôi.

Chị em tôi lớn lên cùng mẹ và bà ngoại gần đất xa trời. Mẹ mới sinh đã đi làm thuê. Sữa căng tràn, thấm ướt áo, nhỏ xuống đất. Con ở nhà thèm sữa, mẹ gạt nước mắt mà đi. Ban ngày làm mướn ngoài đồng. Tối về ẵm em, nấu cháo thuê. Có khi chăm người bệnh liệt chờ chết. Nhà nghèo nhưng mẹ không cho chị em tôi chăn bò, ẵm em thuê.

- Phải học. Nghèo không được dốt. Kẻo rồi xấu tổ tiên, dòng họ.

Tôi bèn hỏi:

- “Vậy quê con ở đâu? Nơi con sinh ra hay nơi đang sống với mẹ ?”.

- “Quê con là nơi ba con được sinh ra. Người phải có cội nguồn mới đứng được”.

Tôi chưa đủ lớn để hiểu hết ý mẹ, nhưng nhớ.

Mẹ sợ con quên nguồn cội là quá đúng, vì tình ba tôi đâu có bạc. Ba ở lại với cô Chi, nhưng ông đâu cắt đứt với mẹ con tôi. Thỉnh thoảng, người quen dưới quê lên vùng kinh tế mới mang theo ít tiền, ít quần áo trẻ con, bảo là “của người trong họ gửi”. Mẹ không hỏi của ai, nhưng nói với chị em tôi của ba gửi cho hai đứa.

Đâu chỉ có một lần ba lén lên núi thăm chúng tôi. Nhưng lần nào cũng vậy, ba đến và đi trong buổi theo ý mẹ:

- Anh về đi, kẻo mang tiếng thêm.

- Dù thế nào, em vẫn là dâu trưởng họ Trần”. Mẹ không trả lời. Nhưng từ đó về sau, mỗi lần nhắc tới cội nguồn, mẹ đều nói chắc như một lời thề.

Mẹ sợ mình có lỗi với cô Chi - người đàn bà đến sau không xứng bị xử tệ. Người đàn bà lỡ thì ấy ít nói, chăm bà nội về già khó tính và chấp nhận để ba chăm sóc con riêng như phận sự của mình. Cô không sinh được con. Có lẽ là định mệnh nào đó khó nói. Không có con, người phụ nữ có còn nỗi bi thiết nào lớn hơn? Cô Chi vẫn lặng lẽ ở bên ba tôi đến cuối đời, chăm nom mồ mả tổ tiên, hương khói nhà thờ họ, và đặc biệt chưa có một lời bất nhẫn về mẹ.

Ba tôi đã mất năm chị tôi học mãn mười hai. Nghe kể trước lúc đi, ông dặn chú Mười trong họ: “Tôi không ly hôn với người vợ trước, trên danh nghĩa, bà ấy mới là vợ chính thức”.

Ba mất rồi đến bà ngoại mất. Một năm sau, mẹ ho dai dẳng. Thuốc tiệm chỉ cầm chừng. Khi chị ép đi bệnh viện tỉnh, bác sĩ chuyển vào Sài Gòn sinh thiết. Ung thư phổi giai đoạn cuối. Ráng cầm cự được một năm rồi mẹ cũng đi.

Trước khi mất, mẹ nắm tay chị em tôi:

- Các con có họ hàng nhưng mẹ đã đem các con về nơi cực khổ, đơn côi đơn chiếc. Mẹ xin lỗi vì không thể làm tuổi thơ các con đủ đầy hơn. Đất này trọc quá...

Câu nói ấy theo tôi suốt đời.

Minh họa: Bích Ngọc
Minh họa: Bích Ngọc

2.

Tôi không thi đại học. Tôi xin vào kiểm lâm xã. Vừa làm vừa theo học từ xa. Tôi ám ảnh những triền đồi nứt nẻ, bụi đỏ quấn lấy tóc mẹ ngày xưa. Nhớ cơn ho của mẹ giữa gió núi. Nếu đất xanh, có lẽ đời người cũng bớt xót xa.

“Nếu đất xanh, có lẽ đời người cũng bớt xót xa”. Chị tôi nói vui, mày là “tù nhân” đầu tiên của rừng khi tôi ngậm ngùi nói vậy rồi đề xuất trồng sầu riêng trên những mảng rừng da beo. Chị ủng hộ nhưng nhiều người cười. Có người bảo tôi mơ giữa ban ngày. Nhưng tôi vẫn quyết tâm, biết đâu giấc mơ ban ngày lại mang theo lý trí.

Tôi lên Tây Nguyên học cách làm đất, chọn giống, xử lý nấm bệnh. Tôi gõ cửa từng nhà, thuyết phục từng hộ.

- Không tàn phá nữa, người với rừng phải cộng sinh.

Như có sự tác động tâm linh nào đó, tôi say sưa nói với mọi người về giấc mơ sầu riêng. Vùng này đất đồi rất dày, hàm lượng mùn cao và thoát nước tốt lại có màu đỏ vàng, thêm khí hậu mát mẻ sẽ là thiên đường của loại trái ăn một miếng nhớ một đời này. Thiên đã thời, địa đã lợi rồi, chỉ còn thiếu yếu tố “ nhân hòa”…, tại sao chúng ta không bắt tay?

Đầu tiên, những người trẻ hưởng ứng rồi lây lan tốt. Kiên, Thơ, Khánh… đến bác Tám, thím Mân, cô Xíu... Những ngọn đồi bắt đầu lấm tấm màu xanh.

Mười năm sau.

Có hộ trả được nợ. Có nhà sửa lại mái ngói, lát gạch men, có nhà lên mê. Tôi không biết mẹ có nhìn thấy không? Nhưng mỗi lần đứng giữa rừng sầu riêng, tôi thấy lòng thảnh thơi hơn.

Chuyện chàng trai làm kiểm lâm xã đã tìm được hướng đi đúng đắn và bền vững cho những người dân vùng kinh tế mới từng sống bằng nghề phá rừng đã lan nhanh khắp huyện. Cấp trên ghi nhận, tôi được lên tuyến trên nhận nhiệm vụ. Như cá gặp nước, ở cương vị này, tôi càng có đủ điều kiện để kêu gọi và mở rộng diện tích trồng sầu riêng, nó sẽ là loài cây giúp dân nghèo đổi đời bền vững.

Công việc coi như có chút thành tựu, tôi nghĩ chắc mẹ đã mỉm cười nơi chín suối. Nhưng đâu đó trong tôi, vẫn lơ lửng mối dằn vặt với tâm nguyện của mẹ. Đêm mưa, vợ con ngủ sớm, tôi thao thức. Nhà tôi xây cạnh căn nhà cũ của mẹ. Tôi giữ lại căn nhà ấy. Ngày nào cũng qua quét dọn, bật đèn, nằm trên chiếc giường xưa. Chính trên chiếc giường nhỏ bé này, mẹ từng nói “Không có cội nguồn, con người ta dễ lạc lắm, khó mà đứng vững”.

Ngồi dậy, muốn thức cùng đêm, tôi khuấy một ly cà phê nóng, mặc chiếc áo ấm, kéo chiếc ghế lại cửa sổ. Mưa to hơn, gió quật rin rít. Qua màn mưa, tôi thấy mẹ lặn lội như cánh cò ngược gió, đôi mắt hiền từ, nhẫn nại. Mẹ bao giờ cũng nhận mình là dâu trưởng họ Trần. Có lần mẹ dắt tôi về thắp nhang. Mồ mả tổ tiên bị nhà cửa bao vây, rác đổ cạnh bên. Nhà thờ họ bé xíu, đứng cheo leo ngoài bờ ruộng. Ánh mắt mẹ hôm đó buồn như một vạt nắng cuối ngày.

3.

Năm nay, tôi quyết định đưa vợ con về giỗ họ. Chứ không đi một mình như những lần trước.

Xe dừng ở đầu làng, trống ngực tôi tự dưng đập liên hồi. Bụng nghĩ cha con tôi sẽ được chào đón nồng nhiệt. Có ai ngờ, bao trùm nhà thờ họ là sự im ắng không cần thiết.

- Trai tráng và nhiều chú bác đi làm ăn xa không về. Giỗ họ nhưng rời rạc vài người tóc bạc chân run. Trẻ con bây giờ bánh trái đầy đủ, chúng cũng chẳng mong đợi bánh ít, bánh nậm như lũ bây hồi nhỏ. Đến nỗi kêu vô ăn bánh ngồi cỗ, tụi nó cũng không hào hứng.

Tôi ngồi chia sẻ với chú Mười - tạm thời làm công việc của trưởng họ. Chú có tâm nguyện muốn nhanh chóng chuyển “chức” trưởng họ lại cho đúng thứ bậc vai vế - là tôi - và hoàn thiện gia phả họ Trần xóm Cầu Suối. Phải làm lại, đàng hoàng hơn, đầy đủ, đẹp đẽ và trực quan hơn. Tranh thủ những cụ trong họ còn sống mà làm sớm. Sẽ đặt ở chỗ trang nghiêm nhất trong nhà thờ họ để mai mốt con cháu về, nhìn đó mà biết gốc gác, thứ bậc của mình.

Bắt tay vào làm mới biết gia phả gốc thiếu sót nhiều. Tôi và chú truy tìm, bổ sung những tên tuổi bị bỏ quên. Đến lượt mẹ tôi, có người chần chừ:

- Bà ấy bỏ đi lâu lắc…

Căn phòng chùng xuống. Tôi chưa kịp nói thì cô Chi - người đàn bà tóc đã bạc gần hết đặt chén trà xuống.

- Không. Chị bỏ đi là vì không ở được. Nhưng chị ấy vẫn sinh con cho họ Trần. Hãy ghi tên chị ấy vào. Dâu trưởng thì vẫn là dâu trưởng.

Sau lời cô, căn phòng nhỏ của nhà thờ họ im lặng một cách thiêng liêng. Tôi nhìn cô, lần đầu tiên thấy giữa chúng tôi không còn khoảng cách.

***

Gia phả và con đường bê tông sáng loáng vào nhà thờ họ đã hoàn thành, họ mạc tập trung về làm bữa liên hoan nhỏ.

Trong lúc mọi người nâng ly, tôi cũng vui vẻ cụng rồi ngước nhìn tấm gia phả treo trang nghiêm trên tường. Giữa những tên tuổi chằng chịt như rễ cây, tên mẹ tôi hiện lên rõ ràng, đậm nét. Bất giác, tôi nhớ những ngọn đồi trọc năm xưa. Chúng đã xanh. Và hôm nay, giữa cội nguồn, tên mẹ cũng xanh lại. Bỗng tôi nghe tiếng mẹ cười. Không phải nụ cười nhẫn nhịn của một đời làm dâu lạc loài. Mà là nụ cười của người cuối cùng cũng được trở về.

Truyện ngắn: Nguyễn Thị Bích Nhàn


Ý kiến bạn đọc


Cùng chuyên mục
Sắc xuân trong hội họa
Mùa xuân, Tuyên Quang như khoác lên mình tấm áo mới rực rỡ. Thiên nhiên đắm mình trong màn sương bảng lảng, điểm xuyết bởi sắc hồng của đào, sắc trắng của mận, làm bừng sáng cả một vùng trời. Vẻ đẹp ấy, sức sống căng tràn ấy không chỉ níu chân du khách, mà còn là nguồn cảm hứng bất tận để các họa sĩ thăng hoa cùng cọ vẽ.
16/02/2026
Nét đẹp Sách Tết
Mỗi mùa xuân đến, cùng với cành đào, câu đối, những cuốn sách Tết lại trở thành món quà tinh thần đặc biệt. Không chỉ để đọc, để tặng như một nét đẹp văn hóa ngày xuân, sách tết còn để chiêm nghiệm về con người, quê hương, thời đại.
16/02/2026
Hoa đào hé nở
Theo đường cây lá nảy mầm, tôi trở lại xóm Đồng Me thăm người bạn đồng ngũ ngày xưa. Có nỗi niềm gì xao động làm vòng xe cứ tít nhanh tốc độ, có lẽ tại lâu quá rồi tôi chưa có dịp trở lại miền đất này. Đến đầu cầu Vạc thì mặt trời cũng xòe những tia vàng óng rớt xuống núi Lịch. Tôi giảm tốc độ vòng xe từ từ qua cầu. Cây cầu đã xây lại không còn chênh vênh vài mảnh ván như thời xưa nữa.
14/02/2026
Nơi mùa xuân không vội
Xuân gõ cửa miền sơn cước bao giờ cũng chậm rãi, không hối hả như dưới phố. Lữ khách tìm về đây không phải để xem một lễ hội, mà để cảm nhận khoảnh khắc ngưng đọng mà nghi lễ đầu xuân vùng cao tạo ra. Đó là lúc con người tạm gác lại nhịp mưu sinh, trở về với nhu cầu giao tiếp thuần túy với đại ngàn.
11/02/2026