Tuyên Quang từ thế kỷ XV - XVIII

TQĐT - Về kinh tế 

(Tiếp theo kỳ trước)

Phương thức khai thác trong các trường mỏ ở Tuyên Quang cũng như trong hầu hết các mỏ ở Đàng Ngoài thời bấy giờ vẫn mang tính chất thủ công. Quặng được đào lên bằng những dụng cụ thô sơ sau đó được đãi rồi nấu trong những lò nổi thô sơ. Với một quy trình hoàn toàn thủ công như vậy, người thợ không thể tận dụng hết nguồn tài nguyên trong lòng đất, năng suất lao động cũng chỉ đạt được ở mức tối thiểu. Tại những hầm mỏ có sử dụng lao động người Trung Quốc có tay nghề cao, có kinh nghiệm khai thác nên trong công việc khai thác có sự phân công hoặc hiệp tác giản đơn, chính vì vậy năng suất lao động cũng cao hơn. Nhưng cũng tại các mỏ này, các sản phẩm khai thác, trừ đi phần đóng thuế, hầu hết lại bị các thương nhân đem về Trung Quốc, đây chính là sự thất thoát về tài nguyên rất đáng tiếc mà chính quyền Lê - Trịnh không quản lý được. Tình trạng nhập cư hỗn loạn và việc các phu mỏ nước ngoài gây rối trật tự trị an ở các khu vực khai thác cũng khiến Nhà nước phải áp dụng nhiều biện pháp để hạn chế số lượng nhân công và hạn chế việc mở rộng phạm vi các mỏ. 

Mối lợi tự nhiên của các loại mỏ khoáng sản đã đóng góp một phần không nhỏ cho nền tài chính quốc gia ở thế kỷ XVII, XVIII. Phan Huy Chú đã từng nhận xét về điều này: “Mối lợi về hầm mỏ phần nhiều là các xứ Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên, Lạng Sơn. Các mỏ vàng, bạc, đồng, thiếc, đáng giá không biết bao nhiêu của. Việc chi dùng của Nhà nước sở dĩ được dồi dào là do ở thuế các mỏ nộp đầy đủ...” (theo Lịch triều hiến chương loại chí, Quốc dụng chí của Phan Huy Chú).  

Từ nửa sau thế kỷ XVIII, ở Đàng Ngoài, phong trào nổi dậy của nông dân diễn ra khắp nơi, trong đó có các cuộc nổi dậy của Hoàng Công Chất, Vũ Đình Dung, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Nguyễn Danh Phương... làm cho các địa phương ở biên giới náo động, nên việc khai mỏ không được quan tâm. Sau khi tình hình tạm lắng, Nhà nước Lê - Trịnh mới có điều kiện tập trung đến việc khai mỏ, giao cho các viên quan địa phương, thổ mục đứng ra tổ chức lần lượt khai lại. Vì của cải ở đây, công và tư đều có lợi, cho nên người đứng ra mộ người làm không ngại khó nhọc phí tổn, “mỏ này, mỏ khác nhộn nhịp, mà những của ở rừng núi đều được lấy ra hết”. 

Về văn hóa - giáo dục 

Trong các thế kỷ XVI, XVII và XVIII, trong khi Nho giáo suy đồi, không còn giữ địa vị thống trị như trước nữa thì Phật giáo lại có điều kiện phát triển. Nhiều ngôi chùa lớn được trùng tu lại. Nhiều chùa mới được xây dựng, có không ít chùa là do hoàng thân, hoàng tộc nhà Mạc, họ Lê - Trịnh và các quan lại các cấp góp tiền của. 

Tuyên Quang thời kỳ này cũng có một số ngôi chùa được xây dựng như chùa Hương Nghiêm (hay còn gọi là chùa Hang) ở dưới chân núi Hương Nghiêm, thuộc xóm Phúc Thọ ở xã An Khang, thành phố Tuyên Quang; chùa An Vinh có tên chữ là “An Vinh thiền tự” thuộc tổ 7, phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang. 

Tại Tuyên Quang, thời Lê Thánh Tông (thế kỷ XV) có ông Tạ Thông thôn Yên Hưng, xã Yên Hưng, huyện Sùng Yên (nay là Hàm Yên) nổi tiếng thần đồng, thi đình đỗ Tiến sĩ khoa Ất Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 6 (1475), làm quan đến chức Đô Ngự sử (Đô Ngự sử là Trưởng quan của Ngự sử đài, đây là chức rất trọng. Ngự sử đài là cơ quan có chức năng giám sát trăm quan và các địa phương). 

Vũ Bé
(Theo các tư liệu lịch sử)

Tin cùng chuyên mục