Chi trả dịch vụ môi trường rừng: Dân có thu nhập, rừng được bảo vệ

TQĐT - Từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, nhận thức về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của các chủ rừng và hộ nhận khoán rừng từng bước được nâng cao. Đặc biệt, chính sách này đã góp phần tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân sống gần rừng, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Cán bộ Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Nà Hang tuần tra bảo vệ rừng tại thôn Nậm Trang, xã Sơn Phú. Ảnh: Quốc Việt 

Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là bước đột phá trong việc giải quyết nhiều vấn đề, trong đó trọng tâm là 3 vấn đề cơ bản về môi trường, kinh tế và xã hội, góp phần giảm thiểu mất rừng, suy thoái rừng và nâng cao chất lượng rừng, làm tăng khả năng phòng hộ của rừng, đảm bảo cân bằng sinh thái giảm thiểu biến đổi khí hậu, hạn chế hạn hán, lũ lụt. Từ khi chính sách chi trả dịch vụ môi trường ra đời, các chủ rừng là tổ chức nhà nước được Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tăng cường giao khoán, mở rộng diện tích khoán bảo vệ rừng. Diện tích rừng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng gần 131 nghìn ha, chiếm 31,5% diện tích rừng toàn tỉnh. 

Đến nay đã có 3 huyện Chiêm Hóa, Nà Hang, Lâm Bình có diện tích cung ứng dịch vụ môi trường rừng nằm trong phạm vi lưu vực Nhà máy Thủy điện Tuyên Quang và Nhà máy thủy điện Chiêm Hóa đã thành lập Ban chi trả dịch vụ môi trường rừng cấp huyện, 25 xã có diện tích rừng cung ứng dịch vụ môi trường thành lập Ban chi trả dịch vụ môi trường rừng cấp xã. 

Năm 2015, tỉnh đã giải ngân trên 7,5 tỷ đồng chi trả dịch vụ môi trường rừng, trong đó chi cho các đối tượng cung ứng dịch vụ là trên 7 tỷ đồng; chi phí quản lý điều hành là trên 488 triệu đồng. Trong năm nay, tỉnh tiếp tục chi trả 4,6 tỷ đồng cho các đối tượng cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Đây là nguồn tài chính quan trọng kết hợp với nguồn vốn ngân sách góp phần đảm bảo nhu cầu công tác quản lý, bảo vệ rừng. Đặc biệt, đã tháo gỡ về tài chính cho UBND các xã có tiền triển khai công tác bảo vệ rừng, các hộ nhận khoán rừng có thêm thu nhập cải thiện đời sống. Các chủ rừng là hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn và hộ nhận khoán bảo vệ rừng cũng được hưởng toàn bộ tiền dịch vụ môi trường rừng chi trả. Việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng về cơ bản đã có những tác động nhất định đến công tác quản lý và bảo vệ rừng trên phạm vi toàn tỉnh nói chung và ở lưu vực có cung ứng dịch vụ môi trường rừng nói riêng. Qua đó đã góp phần làm giảm số vụ xâm phạm, phá hoại rừng, cháy rừng, khai thác lâm sản trái phép... Tổng số vụ vi phạm trong quản lý bảo vệ rừng ngày càng giảm, năm 2015 là 773 vụ, giảm 586 vụ so với năm 2011; trên địa bàn tỉnh không có các điểm nóng về phá rừng, khai thác lâm sản trái phép. 


Người dân xã Vinh Quang, Chiêm Hóa trồng rừng vụ xuân. Ảnh: Phạm Duy

Tuy nhiên, việc chi trả dịch vụ môi trường rừng vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ. Theo Chi cục Kiểm lâm, số hộ được chi trả nhiều 6.388 hộ, diện tích rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng của các hộ gia đình nhỏ lẻ, manh mún; giá chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh thấp, bình quân 38.000 đồng/ha/năm, nhiều hộ gia đình, cá nhân có diện tích rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng nhỏ, từ 0,07 ha - 0,5 ha, số tiền nhận được trong năm chỉ từ 2.660 đồng đến 19.000 đồng/hộ, do đó chưa thu hút được sự quan tâm của người dân về chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng. 

Việc xác định được đối tượng để chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng do cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch trên địa bàn tỉnh trả chưa thực hiện được do nhà máy nước chủ yếu khai thác nước ngầm, việc xác định lưu vực cung ứng dịch vụ môi trường rừng và chủ rừng gặp khó khăn. Thêm vào đó, kinh phí thu từ các cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch trên địa bàn tỉnh ít, mức phu bình quân là 250 triệu đồng/năm, trong khi diện tích rừng cung ứng dịch vụ theo lưu vực lớn, khó khăn trong việc chi trả tiền cho đối tượng cung ứng dịch vụ môi trường rừng theo quy định. 

Việc lập hồ sơ khoán bảo vệ rừng của chủ rừng cho các đối tượng nhận khoán theo Văn bản số 4545/BNN-TCLN ngày 23-12-2013 của Bộ Nông nghiệp và PTNT có tiêu chí xác định trữ lượng rừng là việc đòi hỏi khối lượng công việc lớn mà đơn giá xây dựng hồ sơ thấp đang là cản trở. Hệ thống thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng từ tỉnh đến cơ sở hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm nên chưa nêu cao trách nhiệm trong việc thực thi nhiệm vụ. 

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng có tính ưu việt rất lớn. Do vậy, để chính sách đi vào cuộc sống, ngoài tăng cường việc kiểm tra, giám sát, các địa phương cũng kiến nghị việc cần phải có hướng dẫn cụ thể, sự chỉ đạo thường xuyên trực tiếp từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có như vậy, việc triển khai thực hiện công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng mới đạt hiệu quả, khuyến khích người dân tích cực tham gia công tác bảo vệ và phát triển rừng, hơn thế nữa để chính họ có được cuộc sống ổn định từ nghề rừng.

 

Nguyễn Đạt

Tin cùng chuyên mục