Độc đáo thổ canh hốc đá

08:06, 25/04/2026

Khí hậu khô hạn, địa hình hiểm trở, đất đai khan hiếm và dễ bị rửa trôi... là những khắc tinh của sản xuất nông nghiệp. Nhưng cộng đồng các dân tộc trên Cao nguyên đá Đồng Văn không bỏ cuộc, họ miệt mài tìm cách chinh phục thiên nhiên để mưu sinh, đúc kết kinh nghiệm lâu đời và tri thức bản địa, sáng tạo nên phương thức canh tác độc đáo, gọi là thổ canh hốc đá.

Phương thức sản xuất “Độc nhất vô nhị”

Sáng sớm, khi sương mù còn quấn quýt trên những đỉnh núi cao, ông Vàng Mí Chá, xã Đồng Văn đã dắt theo bò vàng lên nương. Mảnh nương của ông tuy có rộng về diện tích nhưng lại là “trận đồ” đá tai mèo sắc lẹm, những khoảnh đất, hốc đất xen lẫn giữa rừng đá. Theo sau ông, bà Vương Thị Nhìu và những người con với lưng gùi, tay cuốc, bắt đầu một ngày lao động trên đá.

Ở khoảnh đất rộng, ông Chá bắt đầu những đường cày nương. Chiếc cày của người Mông là một tuyệt tác của sự thích nghi, thân cày chắc khỏe, lưỡi cày hình tam giác, nhỏ, hơi cong lượn, được rèn từ loại thép tốt để chống lại sự va đập với đá và dễ dàng lướt đi trên đá. Con bò vàng của người Mông cũng được rèn luyện từ nương đá, có thể trạng to lớn, dễ dàng, khéo léo đi qua những kẽ đá theo điều khiển của chủ dù dưới chân vô vàn hiểm nguy bởi đá.

Người Mông xã Đồng Văn canh tác trên nương đá.
Người Mông xã Đồng Văn canh tác trên nương đá.

Ông Chá kể: “Khi sinh ra và lớn lên đã thấy ông bà, bố mẹ làm nương trên đá, con trai người Mông ai cũng biết cày trên đá. Những chỗ đá cao, ít đất thì gùi đất đổ vào hốc đá mà trồng ngô, có chỗ dốc thì phải xếp đá thành nương để mưa không rửa trôi đất”.

Người vùng cao chất phác, họ kể về cuộc mưu sinh của mình một cách tự nhiên như vốn nó phải thế; nhưng dưới góc nhìn của nông học hiện đại, thổ canh hốc đá là lời giải khoa học cho bài toán sinh tồn tại vùng hệ sinh thái đá vôi đặc thù. Với địa hình chủ yếu trên 80% là núi đá, độ dốc lớn, khả năng giữ nước và đất rất kém.

Nước mưa rơi xuống sẽ nhanh chóng thoát qua các khe nứt, mang theo lớp đất mặt quý giá. Để khắc phục, đồng bào đã sáng tạo ra kỹ thuật “tạo đất”. Họ gùi từng gùi đất nhỏ đổ đầy vào các hốc đá, biến mỗi hốc đá thành một “ô canh tác” độc lập. Đá lúc này không còn là trở lực mà trở thành vật điều tiết nhiệt độ, giữ độ ẩm ít ỏi và chắn gió cho cây trồng. Đây là phương thức canh tác chỉ riêng có trên Cao nguyên đá Đồng Văn.

Toàn bộ quy trình canh tác trên nương đá gần như không thể cơ giới hóa, buộc con người phải duy trì hình thức lao động thủ công. Công đoạn tra hạt ngô thường do phụ nữ đảm nhận. Họ đổi công làm việc theo nhóm nhỏ, người đi đầu cuốc đất trong hốc đá, người tiếp theo tra hạt ngô giống, người đi sau lấp đất.

Giống được trồng ở đây chủ yếu là giống ngô bản địa, chịu hạn, chịu rét tốt. Để tối ưu hóa nguồn đất ít ỏi, đồng bào áp dụng kỹ thuật xen canh triệt để, ngô trồng chính, xen kẽ là rau, dưa chuột, bí và cải. Lớp thực vật phủ kín mặt đất này không chỉ tăng thu nhập mà còn là “màng bọc” hữu hiệu hạn chế xói mòn. Chính sự tỉ mỉ, kiên trì trong từng thao tác đã biến những vùng đá xám thành nương ngô xanh mướt, nuôi sống bao thế hệ cư dân miền biên viễn.

Những nương ngô vươn lên xanh tốt từ lòng đá.
Những nương ngô vươn lên xanh tốt từ lòng đá.

Bảo tồn di sản

Với phương thức canh tác độc đáo, năm 2014, tri thức thổ canh hốc đá chính thức được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Sự ghi nhận này không chỉ mang ý nghĩa tôn vinh một kỹ thuật canh tác, mà còn khẳng định giá trị văn hóa của tri thức bản địa. PGS.TS Nguyễn Chiến Thắng (Viện Nghiên cứu châu Âu) từng nhận định: “Nói đến Cao nguyên đá Đồng Văn là phải nhắc tới tri thức sử dụng di sản địa chất của người dân. Thổ canh hốc đá, hàng rào đá... chính là sự thích ứng sáng tạo đến mức kinh ngạc”. Quả thực, tại đây đã hình thành một “nền văn hóa đá” toàn diện. Đá hiện diện trong mọi ngõ ngách đời sống, đá che chở cho người khi sống và ôm ấp người khi nằm xuống.

Đặc biệt, phương thức canh tác này luôn gắn liền với hệ thống “nông lịch” bản địa và các nghi lễ quan trọng như lễ cúng thần rừng, lễ cầu mưa, lễ mừng cơm mới, lễ hội Lồng Tông, Lễ Gầu tào và cả những món ăn mang hồn cốt của xứ đá như mèn mén, bánh ngô, rượu ngô, bánh Tam giác mạch. Tất cả hòa quyện tạo nên một chỉnh thể văn hóa nông nghiệp bền vững của vùng cao. Chính sự hòa quyện giữa lao động, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng đã nâng thổ canh hốc đá vượt khỏi phạm vi sản xuất đơn thuần, trở thành di sản văn hóa.

Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu ngày càng khắc nghiệt, việc bảo tồn di sản này đang đứng trước những thách thức mới. Các chuyên gia văn hóa khẳng định, bảo tồn thổ canh hốc đá khác với bảo tồn văn hóa thông thường bởi đây là tri thức bản địa đang được người dân thực hành mỗi ngày, vì vậy bảo tồn phải gắn liền với sinh kế của cộng đồng. Những năm qua, tỉnh đã chủ trương lồng ghép canh tác truyền thống với du lịch cộng đồng, du khách đến đây có thể tham quan, trải nghiệm phương thức canh tác miền đá, chiêm ngưỡng sự kỳ diệu của bàn tay con người, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân.

Bên cạnh đó, tỉnh đẩy mạnh số hóa tri thức bản địa, ghi chép lại các kỹ thuật chọn giống, canh tác, các nghi lễ liên quan và giữ gìn nghề truyền thống như nghề đúc lưỡi cày, nghề nấu rượu ngô, ẩm thực mèn mén... như những di sản vệ tinh trong hệ sinh thái thổ canh hốc đá.

Biện Luân


Ý kiến bạn đọc


Cùng chuyên mục
Giữ nghề nón lá hai mê ở Xuân Giang
Giữa nhịp sống hiện đại, có những giá trị văn hóa vẫn âm thầm, bền bỉ như mạch nguồn vun đắp hồn cốt dân tộc. Ở xã Xuân Giang, nghề làm nón lá hai mê qua đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ Tày đã trở thành một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, tinh xảo, kết tinh từ sự tỉ mỉ, kiên nhẫn và niềm tự hào truyền thống dân tộc, trở thành di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
28/03/2026
Thời hoa lửa
“Sáng sớm ngày 23/4/1975, đơn vị chúng tôi nhận lệnh tiến từ Buôn Ma Thuột về Sài Gòn. Dọc đường quân đi như nước chảy, lớp lớp người nối tiếp nhau đi. Cảm thấy ngày chiến thắng đã đến rất gần, không khí lại càng thêm háo hức...”. Bên tấm ảnh đen trắng Bộ đội Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất được phóng to, treo trang trọng ở khu vực dễ thấy nhất trong căn phòng nhỏ, cựu chiến binh Nguyễn Thế Liêm kể lại cho chúng tôi nghe về những ngày tháng gian khổ nhưng cũng đầy hào hùng trong đại thắng Mùa Xuân năm 1975.
24/04/2026
Ký ức người lính
Chiến tranh đã qua hơn nửa thế kỷ, nhưng trong ký ức của cựu chiến binh Vũ Mộng Hùng, người lính lái xe ô tô giải phóng (CA-10B) của Cục Hậu cần Đoàn 559, chở Bộ binh E66 cùng Lữ đoàn xe tăng 203 tiến vào Dinh Độc Lập
24/04/2026
Phở "treo gió"
"Phở hong gió núi, gà thả lưng đồi" - câu nói cửa miệng mộc mạc ấy của đồng bào vùng cao như một lời mời gọi đầy tò mò dành cho lữ khách ngược ngàn. Rời xa những ồn ào phố thị, men theo tuyến Quốc lộ 4C vắt vẻo sườn núi dẫn lên Cao nguyên đá, du khách dễ dàng bị thu hút bởi một thức quà dung dị nhưng nức tiếng của Tuyên Quang: Phở Tráng Kìm. Bước vào các quán ăn ven đường ở thôn Sang Phàng, xã Lùng Tám, không gian không chỉ ngập tràn mùi nước dùng hầm xương ngầy ngậy, mà còn gây ấn tượng thị giác mạnh mẽ với những dải bánh phở trắng ngà, hồng đục vắt vẻo trên sào nứa hiên nhà.
24/04/2026