Ký ức người lính
Chiến tranh đã qua hơn nửa thế kỷ, nhưng trong ký ức của cựu chiến binh Vũ Mộng Hùng, người lính lái xe ô tô giải phóng (CA-10B) của Cục Hậu cần Đoàn 559, chở Bộ binh E66 cùng Lữ đoàn xe tăng 203 tiến vào Dinh Độc Lập
Những chuyến xe qua bom đạn
Vào một buổi chiều tháng Tư, sau cơn mưa đầu hè, chúng tôi tìm đến căn nhà nhỏ của cựu chiến binh Vũ Mộng Hùng, tại tổ dân phố Tân Quang 8, phường Minh Xuân.
Bà Vũ Bích Hòa là vợ ông Hùng nhẹ nhàng đón khách nói: “Từ lúc cháu gọi điện nói sẽ đến thăm và viết về ký ức 30-4, bác Hùng nghẹn ngào suốt”. Khi chúng tôi bước vào, người lính năm xưa nay mái tóc đã bạc vẫn chưa kịp giấu đi đôi mắt đỏ hoe.
![]() |
| Cựu chiến binh Vũ Mộng Hùng (giữa) cùng đồng đội xem lại bức ảnh lịch sử tiến vào Dinh Độc Lập trưa 30-4-1975. |
Từ những cảm xúc lắng đọng ấy, câu chuyện về cuộc đời và những năm tháng chiến tranh của cựu chiến binh Vũ Mộng Hùng đưa chúng tôi trở về với năm 1972, khi ông tròn 20 tuổi, đang là học sinh lớp 10C, khóa K69-72, Trường cấp 3 Tân Trào, khi ấy trong bối cảnh cả nước bước vào giai đoạn ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, thế hệ thanh niên sẵn sàng gác lại sách vở, ước mơ, để lên đường nhập ngũ. “Lớp tôi có 47 người thì có tới 27 người, cả nam lẫn nữ viết đơn tình nguyện nhập ngũ và ký tên bằng máu”, ông Hùng nhớ lại.
Dù ngày 27-5-1972 là thời điểm dự kiến thi tốt nghiệp, nhưng chỉ hai ngày trước đó, ngày 25-5-1972, ông Hùng cùng các bạn đã có mặt tại Đình làng số 4 Ỷ La (cũ) chính thức lên đường nhập ngũ theo lệnh tổng động viên; ông Hùng được chọn cử đi học lái xe tại huyện Đồng Hỷ (cũ), tỉnh Thái Nguyên trong thời gian 45 ngày và ngay sau khi hoàn thành khóa huấn luyện, ông nhận xe tại cửa khẩu Đồng Đăng (Lạng Sơn) rồi lập tức tham gia các đoàn xe vận tải chi viện cho chiến trường.
Ông Hùng cho biết: Trận đánh lớn đầu tiên trong đời lính của mình là trận chống quân Ngụy lấn chiếm vùng giải phóng tại Thành cổ Quảng Trị vào tháng 8-1972, khi địch bắn phá dữ dội, bom đạn trút xuống liên hồi, song quân ta vẫn kiên cường bám trụ, chiến đấu anh dũng giữ vững trận địa. Ông kể: “Ban ngày tranh thủ ngủ, ban đêm chở đạn, chở gạo, chở thuốc, chở bộ đội vào thành cổ. Đêm nào cũng như đêm nào, xe chạy không đèn, chỉ có ánh sáng đèn gầm 12 vôn, hoặc ánh trăng, hai bên đường là thanh niên xung phong đứng làm cọc tiêu dẫn đường, sau lưng là sông, trước mặt là ngầm tràn”.
Sau chiến thắng thành cổ Quảng Trị, tháng 10-1972, ông được biên chế về Tiểu đoàn lái xe 55, Binh trạm 42 tại huyện A Lưới (cũ), Thừa Thiên - Huế, phục vụ Mặt trận Bình - Trị - Thiên.
Sau đó, tháng 1-1973 đến tháng 8-1974 ông được điều động về Đại đội 4, Tiểu đoàn 30, Cục hậu cần, Đoàn 559 và được biệt phái phục vụ Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 ở chiến trường Thượng Đức, Quảng Nam (cũ), một trong những chiến trường ác liệt nhất giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Trong một lần bị phục kích tại đây, ông bị thương, mang thương tật 21% do đạn bắn vào tay và chân. Đồng thời, ông bị nhiễm chất độc da cam với tỷ lệ 61%.
Hòa bình rồi!
Nhắc đến những ngày tháng ấy, giọng ông nghẹn lại: “Có những đồng đội chết ngay trước mắt tôi mà không cứu được, có người chỉ kịp nói “đưa tôi về đơn vị”, thùng xe tôi chở biết bao xương máu của đồng đội…”, và chính từ những tháng ngày khốc liệt, chất chứa đầy ký ức ấy, người lính lái xe năm xưa tiếp tục cùng đơn vị bước vào giai đoạn quyết định của cuộc chiến. Tháng 3-1975, đơn vị ông tham gia Chiến dịch Tây Nguyên, giải phóng Buôn Ma Thuột, rồi ông quay lại chở Trung đoàn 66 từ Đại Lộc tiến công giải phóng Huế, Đà Nẵng và các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ. Đến ngày 29-4-1975, đơn vị tập kết tại căn cứ Nước Trong, cách Dinh Độc Lập khoảng 25 km, sẵn sàng cho trận đánh cuối cùng mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh; và trong không khí sục sôi ấy, khi có lệnh tổng tiến công “anh em ai cũng phấn chấn, tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” dâng cao”, để rồi trong đội hình tiến công lịch sử, ông là người lính lái xe ô tô giải phóng (CA-10B) của Cục Hậu cần Đoàn 559, chở Bộ binh E66 cùng Lữ đoàn xe tăng 203 tiến vào Sài Gòn, góp phần làm nên thời khắc lịch sử của dân tộc.
Khoảnh khắc lịch sử vẫn in đậm trong ký ức ông: “Khi phát súng mừng chiến thắng của đoàn xe tăng tiến vào Dinh độc lập. Anh em trên xe chúng tôi đồng loạt hô vang “sống rồi!, hòa bình rồi!”, nhân dân Sài Gòn ùa ra đường chào đón bộ đội, lúc ấy quân với dân như hòa làm một”.
Đúng 11 giờ 30 ngày 30-4-1975, lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.
Với những đóng góp trong cuộc kháng chiến, ông Vũ Mộng Hùng đã được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều huân, huy chương cao quý như Huân chương Giải phóng hạng Ba, Huy chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất cùng Giấy chứng nhận Chiến sĩ Thành cổ Quảng Trị.
Sau ngày đất nước thống nhất, tháng 9-1975, ông được cử đi học tại Học viện Quân sự Kharkov (Liên Xô), nhưng do thương tật ở chân, ông xin trở về nước, rồi được Bộ Quốc phòng tạo điều kiện ôn thi đại học, rồi theo học tại Trường Đại học Lâm nghiệp, sau đó công tác tại Xí nghiệp Lâm công nghiệp Bắc Yên, huyện Hàm Yên (cũ), rồi chuyển về giảng dạy tại Trường Trung cấp Kinh tế Tuyên Quang cho đến khi nghỉ hưu năm 2008.
Sau này, ông còn nhiều lần tham gia các đoàn tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ của Quân khu 4 tại Lào, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, góp phần đưa nhiều đồng đội trở về với đất mẹ.
Đến năm 2017, sau 42 năm kể từ ngày giải phóng, ông bất ngờ được Viện Chiến lược và Lịch sử quân sự Việt Nam trao tặng một bức ảnh đặc biệt: hình ảnh chiếc xe ô tô CA-10B do chính ông lái, chở bộ binh tiến vào Dinh Độc Lập trưa 30-4-1975. Bức ảnh do nữ nhà báo Pháp Fran-oise Demulder chụp và sau đó được sử dụng làm bìa cuốn sách mang tên “Giải phóng” của nhà báo, nhà văn người Italia Tiziano Terzani.
Ông xúc động cho biết: “Sau này tôi cũng bất ngờ được biết trong bức ảnh ấy còn có ông Phạm Như Hán, Đại đội trưởng Đại đội 11, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 66, Sư đoàn 304A, cũng là người con Tuyên Quang, cùng trên chiếc xe lịch sử ấy”.
Chiều muộn, khi câu chuyện khép lại, chúng tôi rời căn nhà nhỏ của ông, mang theo những dư âm, bởi ký ức của cựu chiến binh Vũ Mộng Hùng không chỉ là câu chuyện của riêng ông, mà là câu chuyện của cả một thế hệ đã đi qua chiến tranh bằng tất cả tuổi trẻ, niềm tin và sự hy sinh, để hôm nay, đất nước được sống trong hòa bình, độc lập và phát triển.
Mai Dung









Ý kiến bạn đọc