Đạo lý sống trong bài phú của Nguyễn Hàng
Tịch cư ninh thể phú là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Hàng, tác gia lớn của văn học trung đại Việt Nam. Ông sống trong giai đoạn đất nước nhiều biến động bởi cuộc phân tranh Nam - Bắc triều. Chứng kiến thời cuộc rối ren, Nguyễn Hàng lui về ở ẩn tại xứ Đại Đồng, phủ Yên Bình, Tuyên Quang, chuyên tâm đọc sách và sáng tác. Chính trải nghiệm ấy đã trở thành nguồn cảm hứng để ông sáng tác áng phú đặc sắc của văn học trung đại Việt Nam.
![]() |
| Một góc An Khang - xứ Đại Đồng khi xưa. |
Ngay từ nhan đề, tác phẩm đã thể hiện rõ tư tưởng chủ đạo. “Tịch cư” nghĩa là ở nơi thanh vắng, xa chốn thị phi; “ninh thể” là thân tâm được an nhiên, thanh thản. Toàn bộ bài phú là lời bộc bạch về niềm vui của cuộc sống ẩn cư, coi sự bình yên trong tâm hồn là giá trị cao quý hơn danh lợi.
Trong bài phú, tác giả khắc họa vẻ đẹp của cuộc sống nơi núi rừng, thôn dã xứ Đại Đồng, Tuyên Quang thuở ấy. Không gian thiên nhiên hiện lên thanh sạch, yên tĩnh với cây cỏ, mây nước, tiếng chim, gió núi. Đó không chỉ là bức tranh phong cảnh mà còn là môi trường nuôi dưỡng tâm hồn con người. Thiên nhiên trở thành người bạn tri âm giúp con người tìm lại sự cân bằng sau những biến động của cuộc đời.
Nhiều đoạn trong bài phú nói lên cảm hứng tự do phóng khoáng của người ở ẩn: Vui thay miền thôn tịch, Cư xử đầu lòng/ngao du mặc thích/khéo chiều người mến cảnh Yên Hà/dễ quyến khách vui miền tuyền thạch.
Dường như, phong cảnh xứ Đại Đồng được tác giả lấy làm nền cho tâm hồn nho sĩ: Dấu ngựa xe chẳng đến, cỏ bén hơi xuân/Bạn viên hạc quen tìm, hoa cười đón khách/Vượn chào hòa khiếu hót, cách ngàn đưa khúc xướng khúc ca/Suối chảy lẫn thông reo, bên tai dõi nhịp đàn nhịp phách/Chợ chân trời, mây họp đùn đùn/Chày sườn núi nước đâm thình thịch.
Con người với cảnh vật thiên nhiên như bạn gần gũi hòa đồng: Khách nhàn họp ba chồi cúc muộn đứng dựa bên thềm/bạn lão sum mấy gốc mai già, chen kề tận ngạch.
Bên cạnh miêu tả thiên nhiên đẹp đẽ xứ Tuyên, bài phú còn thể hiện thái độ dứt khoát đối với công danh, quyền lực và những bon chen nơi chốn quan trường. Nguyễn Hàng không phủ nhận giá trị của việc giúp đời, nhưng ông nhận thấy trong hoàn cảnh xã hội đương thời, danh lợi đã bị tha hóa, khiến nhiều người đánh mất khí tiết. Vì vậy, sống thanh bạch, giữ gìn nhân cách, khí tiết bậc trượng phu được ông xem là lựa chọn đúng đắn hơn: Mênh mông biển bạc, màng rủ rê chi giống dầu dầu/chất ngất dặm rừng xanh, xá tìm tòi chi loài chích chích.
Thể hiện lẽ sống nghèo mà thanh nhàn: Dưỡng tính khề khà/Náu thân ngờ nghệch...; ông vẽ nên một bức tranh sống động về toàn cảnh cuộc sống nơi ở ẩn: Che khỏi nắng mưa dầu vậy, trên kết tranh mấy tấm bơ sờ/Dung vừa ngồi đứng thời thôi, dưới cắm sậy ba gian rộc rệch...
![]() |
| Đền thờ Nguyễn Hàng tại quê ông Lâm Thao (Phú Thọ). |
Cái sang của thiên nhiên như vây bọc cái nghèo người ẩn sĩ, khiến ông cảm nhận cái hay từ nghịch cảnh an bần lạc đạo: Cảnh hẹp lòng càng rộng, mặc tới lui hằng đủ, hằng vui/Nhà thấp đạo càng cao, dù cúi ngửa chi hiềm chi trách.
Từ quan điểm ấy, ông bộc lộ rõ quan niệm sống: Thong thả một năm mười hai tháng, gặp thời bình trị được làm người/Ngao du ba vạn sáu ngàn ngày, tới cõi tràng sinh càng dõi mạch.
Trong bài phú, tác giả gửi gắm quan niệm sống chịu ảnh hưởng sâu sắc của cả Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Nếu Nho giáo giúp tác giả giữ gìn đạo nghĩa và nhân cách của người quân tử, thì tư tưởng Phật giáo và Đạo giáo lại đem đến tinh thần buông bỏ dục vọng, hòa mình với thiên nhiên để đạt đến sự an nhiên. Sự dung hòa này là nét đặc trưng trong tư tưởng của nhiều trí thức Việt Nam thời trung đại: Dở dang tuồng canh, mục, ngư, tiều/Pha phách thói nho, y, đạo, thích/Tựa mây tắm suối, miễn được tiêu dao/Nương giá phù sa, sá gì bộc bạch.
Về nghệ thuật, Tịch cư ninh thể phú nổi bật ở ngôn ngữ trau chuốt, điển cố phong phú nhưng không nặng nề, các cặp câu đối cân xứng tạo nên nhịp điệu trang trọng mà vẫn giàu cảm xúc. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình được vận dụng nhuần nhuyễn: cảnh vật thiên nhiên vừa chân thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho một tâm hồn thanh cao, thoát tục. Giọng điệu khi khoan thai, ung dung; khi sâu lắng, triết lý, tạo nên sức hấp dẫn bền vững cho tác phẩm.
Trong tiến trình văn học Việt Nam, Tịch cư ninh thể phú giữ vị trí quan trọng của dòng văn học viết bằng chữ Hán thời Trung đại. Tác phẩm góp phần hoàn thiện truyền thống văn học đề cao đạo lý, nhân cách và lối sống thanh cao của người trí thức, tạo nên mạch chảy tư tưởng xuyên suốt: khi xã hội rối ren, điều đáng quý nhất mà con người cần giữ chính là phẩm giá.
Sau hơn bốn thế kỷ, những giá trị của Tịch cư ninh thể phú vẫn còn nguyên ý nghĩa. Trong một xã hội hiện đại với nhiều áp lực cạnh tranh, tác phẩm nhắc nhở rằng sự thành công không chỉ được đo bằng quyền lực hay vật chất, mà còn bằng khả năng giữ được tâm thế bình thản, sống liêm chính, biết dừng đúng lúc và không đánh mất bản thân trước những cám dỗ của cuộc đời.
Duy Anh












Ý kiến bạn đọc