Ký ức “địa ngục trần gian”

10:37, 04/05/2026

Thời gian có thể phủ bụi nhiều thứ nhưng với những người lính từng bước qua lằn ranh sinh tử, ký ức về đạn bom và chốn lao tù vẫn vẹn nguyên như mới hôm qua. Trong nếp nhà bình yên ở tổ dân phố 6, phường Nông Tiến, cựu chiến binh Đặng Xuân Trường trầm ngâm bên chén trà. Gần ba năm đằng đẵng bị đày đọa tại “địa ngục trần gian” Phú Quốc, sức mạnh giúp ông sống sót trở về không chỉ là bản lĩnh thép của bộ đội Cụ Hồ mà còn là tình đồng chí thiêng liêng nơi ngục tối.

Cựu chiến binh Đặng Xuân Trường.
Cựu chiến binh Đặng Xuân Trường.

Chiến thuật "tôi không biết"

Năm 1968, giữa lúc chiến tranh ác liệt nhất, chàng thanh niên Đặng Xuân Trường mang theo nhiệt huyết thanh xuân khoác ba lô lên đường đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Trở thành lính đặc công tinh nhuệ, ông sát cánh cùng đồng đội vào sinh ra tử trên khắp các chảo lửa từ Quảng Nam, Quảng Ngãi đến Bình Định, Phú Yên. Nhưng trận đánh khiến ông khắc cốt ghi tâm nhất lại là một đêm đẫm máu năm 1970. Ánh mắt chùng xuống, ông Trường bùi ngùi nhớ lại: "Đêm đó, tổ trinh sát chúng tôi nhận nhiệm vụ chuẩn bị địa hình để đánh cứ điểm sân bay Chu Lai. Nhưng không may, anh em lọt vào ổ phục kích địch giăng sẵn. Súng nổ chát chúa giữa màn đêm. Tôi tận mắt chứng kiến những đồng đội vừa mới vỗ vai nhau cười nói, lần lượt ngã xuống ngay trước mắt mình. Đau xót lắm!".

Trơ trọi một mình giữa vòng vây siết chặt, người lính trẻ 22 tuổi nghiến răng chiến đấu để mở đường máu. "Lúc ấy pháo sáng của địch thả rực cả bầu trời. Chúng ném lựu đạn cay, lựu đạn khói khiến tôi ngất lịm đi. Đến khi tỉnh dậy thì thấy mình đã nằm trong tay giặc", ông kể.

Biết ông là lính đặc công, địch lập tức đưa đi thẩm vấn. Suốt ba tháng ròng rã, những trận đòn thừa sống thiếu chết trút xuống thân thể người lính thương binh trẻ tuổi. Chúng dùng đủ mọi nhục hình tàn độc nhất hòng moi móc thông tin về căn cứ bí mật.

Nhấp ngụm trà, ông Trường khẽ cười, nụ cười của một người đã chiến thắng đòn thù: "Người lính Cụ Hồ đã được rèn luyện bản lĩnh rồi, chúng đánh tàn nhẫn đến mấy tôi cũng cắn răng chịu. Gặp bọn cai ngục, tôi dùng đúng một chiến thuật, lặp đi lặp lại một câu duy nhất: Tôi mới vào, tôi không biết gì cả. Đánh mãi không khai thác được gì, chúng bất lực, tống tôi ra Trại giam tù binh Phú Quốc”.

Lửa thử vàng chốn lao tù

Đặt chân đến đảo ngọc, ông Trường mới thực sự nếm trải tận cùng của sự đày đọa. Hệ thống nhà tù Phú Quốc khi ấy giam giữ khoảng 4 vạn tù binh miền Bắc và hàng vạn tù binh miền Nam, bị chia tách thành các khu riêng biệt để dễ bề cai trị. "Vào đó mới thấy đúng là địa ngục trần gian," giọng ông Trường chùng xuống. "Chúng nhốt cả trăm anh em trong những căn phòng chật chội, nóng như thiêu như đốt. Không có màn, không có đồ dùng cá nhân, anh em nằm la liệt trên sạp gỗ, người chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi áo cộc. Hàng ngày, chúng thay nhau lôi tù binh ra đánh đập, tra tấn dã man để khủng bố tinh thần, ép ly khai, chiêu hồi”.

Thế nhưng, đòn thù có thể làm rỉ máu thể xác chứ không thể giam cầm được ý chí. Giữa chốn lao tù tăm tối nhất, ông Trường như được tiếp thêm sức mạnh khi hội ngộ những anh em đồng hương Tuyên Quang. Mọi người xích lại gần nhau, nhường nhau từng hạt muối, ngụm nước, động viên nhau giữ vững khí tiết thà chết chứ kiên quyết không phản bội.

Đáng khâm phục hơn, giữa nơi ranh giới sống chết mong manh, ông Trường và đồng đội không để thời gian trôi đi trong tuyệt vọng. Tận dụng bóng tối của phòng giam, họ biến ngục thất thành lớp học. "Mình biết chữ thì dạy cho anh em chưa biết. Không có giấy bút, chúng tôi nhặt nhạnh mẩu than, mảnh gạch vỡ rồi bí mật viết lên nền xi măng lạnh lẽo. Ngày thì chịu đòn roi, đêm đến anh em lại che chắn cho nhau để học chữ", ánh mắt người cựu binh già rực sáng.

Đặc biệt nhất, thứ vũ khí sắc bén giữ vững đội ngũ trong tù chính là các tổ chức Đảng hoạt động ngầm. Ông Trường nhớ lại những quy tắc sinh tử: "Trong đó, chúng tôi vẫn bí mật sinh hoạt Đảng. Cứ ba người đáng tin cậy nhất sẽ kết lại thành một chi bộ. Kẻ thù luôn tìm cách cài cắm tai mắt, lính trà trộn vào, nên nguyên tắc là tuyệt đối không tin ai vội, không bao giờ được ngồi túm năm tụm ba bàn bạc. Tổ chức cử ai làm nhiệm vụ gì thì người đó mới được làm, tuyệt đối thầm lặng. Chỉ cần sơ sẩy bị chỉ điểm là nắm chắc cái chết".

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chụp ảnh kỷ niệm cùng Cựu chiến binh Đặng Xuân Trường (thứ 2 từ phải qua trái) và đồng đội tại buổi gặp mặt chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù đày.
Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chụp ảnh kỷ niệm cùng Cựu chiến binh Đặng Xuân Trường (thứ 2 từ phải qua trái) và đồng đội tại buổi gặp mặt chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù đày.

Chính kỷ luật thép và sự bảo vệ lẫn nhau của các đảng viên đã giúp đội hình không bị phá vỡ. Cũng tại nơi đây, ông và các đồng đội đã được tiếp thêm sức mạnh khi biết đến những tấm gương kiên trung của các đồng chí tù chính trị, trong đó có đồng chí Trương Tấn Sang (sinh năm 1949). Tinh thần bất khuất ấy đã trở thành ngọn đuốc soi đường. Nhiều năm sau ngày hòa bình, trong một lần trở lại thăm chiến trường xưa, ông Trường cùng các đồng đội đã vô cùng xúc động khi được hội ngộ và chụp ảnh kỷ niệm cùng vị cựu tù năm xưa - Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

Cống hiến bằng tinh thần người lính

Ngày 15-3-1973, nhờ Hiệp định Paris, cánh cửa ngục tù cuối cùng cũng mở ra. Ông Trường được trao trả tự do. Về đến Nông Tiến, ông mang dáng vẻ của một người từ cõi chết trở về: thân hình rệu rã, ốm yếu, làn da trắng bệch vì hằng năm trời không thấy ánh mặt trời.

"Nhìn thấy tôi bước vào cổng, mẹ tôi sững người rồi òa khóc nấc lên vì xót xa," ông Trường rơm rớm nước mắt. "Hàng ngày, mẹ lúi húi dưới bếp, chắt chiu nấu những bát gạo nếp trộn nghệ tươi để tẩm bổ. Chính tình thương của mẹ và từng thìa xôi dẻo ngọt ấy đã từ từ gọi sinh khí trở về trong cơ thể tôi”.

Không gục ngã trước thương tật, khi sức khỏe dần ổn định, ông đi học Trường Công đoàn và về cống hiến tại Liên đoàn Lao động tỉnh. Ông cũng bén duyên cùng bà Lan - người vợ hiền lành, tần tảo - và có với nhau hai người con trưởng thành, giỏi giang.

 

Chiều nay, trong khoảng sân nhỏ rộn rã tiếng cười, mái tóc cựu chiến binh Đặng Xuân Trường đã điểm bạc. Nắm lấy bàn tay người vợ hiền, nhìn các cháu chắt nô đùa, nụ cười của ông rạng rỡ và an yên. Cuộc đời ông như một cây xà cừ cổ thụ, từng bị đạn bom phạt ngang, từng bị đày đọa trong ngục tối, nhưng bằng một sức sống phi thường, rễ cây vẫn bám sâu vào lòng đất mẹ để vươn lên tỏa bóng mát cho đời.

Phóng sự: Giang Lam


Ý kiến bạn đọc


Cùng chuyên mục
Biên niên sử bằng hiện vật
Từ nếp nhà dung dị nơi miền quê đến không gian trang nghiêm chốn Bảo tàng tỉnh, mỗi kỷ vật chiến tranh là một lát cắt lịch sử, mang theo hơi thở của một thời hoa lửa. Những kỷ vật ấy âm thầm kết nối quá khứ với hiện tại, dệt nên cuốn biên niên sử đặc biệt, nhắc nhớ về giá trị thiêng liêng của hòa bình hôm nay.
30/04/2026
Tiếp bước cha anh
Sinh ra và lớn lên trong hòa bình, tuổi trẻ Tuyên Quang hôm nay đang tiếp bước cha anh bằng tri thức, nhiệt huyết và hành động thiết thực, góp phần phát huy truyền thống quê hương cách mạng. Từ phong trào “Ba sẵn sàng” lịch sử, những giá trị tốt đẹp tiếp tục được kế thừa, trở thành động lực để thanh niên hôm nay không ngừng nỗ lực, cống hiến viết tiếp trang mới đầy tự hào.
30/04/2026
Viết tiếp bản hùng ca
Nhiều thập kỷ đã trôi qua kể từ ngày tiếng súng lặng tắt, nhưng có một bản nhạc vẫn chưa bao giờ dứt - bản hòa tấu của lòng biết ơn. Bản nhạc ấy đang được viết tiếp bởi những tổ chức, cá nhân vẫn lặng thầm sưởi ấm vết thương chiến tranh, tận tâm phụng dưỡng những người Mẹ và bền bỉ giữ lửa cho những “địa chỉ đỏ” thiêng liêng.
30/04/2026
Độc đáo thổ canh hốc đá
Khí hậu khô hạn, địa hình hiểm trở, đất đai khan hiếm và dễ bị rửa trôi... là những khắc tinh của sản xuất nông nghiệp. Nhưng cộng đồng các dân tộc trên Cao nguyên đá Đồng Văn không bỏ cuộc, họ miệt mài tìm cách chinh phục thiên nhiên để mưu sinh, đúc kết kinh nghiệm lâu đời và tri thức bản địa, sáng tạo nên phương thức canh tác độc đáo, gọi là thổ canh hốc đá.
25/04/2026