Cây đoàn kết trên cao nguyên

08:51, 06/06/2026

Giữa trùng điệp đá tai mèo của Cao nguyên đá Đồng Văn, có một cái tên được nhiều thế hệ đồng bào nhắc đến bằng sự kính trọng đặc biệt - Sùng Đại Dùng. Người Mông gọi ông với cái tên thân mật “ông già Cao nguyên”, cán bộ gọi ông là cây đại đoàn kết”, còn nhiều người dân vùng biên coi ông như một chỗ dựa tinh thần. Gần trọn cuộc đời mình ông dành để kết nối lòng Dân với ý Đảng, đưa những chủ trương lớn đi vào cuộc sống bằng chính uy tín, sự chân thành và những việc làm cụ thể.

Gieo niềm tin bỏ cây thuốc phiện

Trên hành trình qua Cao nguyên đá Đồng Văn, không khó để bắt gặp những thung lũng hoa cải vàng trở thành điểm check-in hấp dẫn du khách, đem lại nguồn thu cho người dân. Nhưng ít ai biết rằng, cây cải dầu từng là lời giải cho bài toán sinh kế trong cuộc vận động xóa bỏ cây thuốc phiện thập niên 80 của thế kỷ trước.

Thời điểm đó, cây thuốc phiện phủ kín các nương rẫy, gieo rắc đói nghèo, bệnh tật và sự lệ thuộc lâu dài. Với nhiều gia đình người Mông, thuốc phiện đã trở thành tập quán canh tác từ bao đời. Vì thế, vận động đồng bào phá bỏ không khác gì yêu cầu họ từ bỏ kế sinh nhai duy nhất.

Ông Sùng Đại Dùng với các Cựu thanh niên xung phong mở đường Hạnh Phúc.
 Ảnh: Tư liệu
Ông Sùng Đại Dùng với các Cựu thanh niên xung phong mở đường Hạnh Phúc. Ảnh: Tư liệu

Dấu ấn đậm nét nhất trong cuộc vận động ấy là tại xã Đường Thượng, địa phương cuối cùng của huyện Yên Minh khi đó chưa xóa bỏ được cây thuốc phiện. Khi ấy trên cương vị Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh, ông đề xuất tỉnh cho cơ quan trực tiếp phụ trách hỗ trợ địa phương. Đồng thời, cùng chính quyền cơ sở xuống tận thôn bản, gặp gỡ các hộ dân để lắng nghe tâm tư, giải đáp những băn khoăn và tháo gỡ từng nút thắt trong nhận thức.

Là người con của miền đá, ông Dùng hiểu rằng muốn đồng bào tin thì trước hết phải tạo được niềm tin. Điều khiến người dân lo lắng nhất vẫn là câu chuyện cái ăn. Bỏ thuốc phiện rồi sẽ sống bằng gì? Thu nhập từ đâu để nuôi con, mua muối, mua gạo? Trước những băn khoăn ấy, ông đưa ra lời cam kết: “Đồng bào phải tin tôi. Tôi là Sùng Đại Dùng, tôi không lừa Chính phủ, lừa đồng bào đâu. Tôi nói là làm. Bỏ thuốc phiện mà không có ăn thì cứ đến nhà tôi mà ăn”.

Tuy nhiên, chỉ vận động thôi chưa đủ. Muốn người dân từ bỏ cây thuốc phiện thì phải giải quyết được bài toán sinh kế. Từ thực tế của vùng đá khô cằn, ông đã tìm hướng chuyển đổi cây trồng, đưa cây cải dầu vào gieo trồng trên những diện tích trước đây vốn phủ kín hoa anh túc. Nhắc lại giai đoạn ấy, ông Kim Xuyến Lượng, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh chia sẻ, điều tôi ấn tượng nhất ở anh Sùng Đại Dùng là sự thấu hiểu đời sống đồng bào và tầm nhìn xa trong triển khai chủ trương.

Anh tích cực tham mưu với tỉnh ban hành các chính sách hỗ trợ lương thực, giống cây trồng cho người dân trong giai đoạn đầu chuyển đổi sản xuất, với quan điểm “lấy sự ổn định cuộc sống của dân làm gốc”. Chính vì thế người dân tin tưởng vào chủ trương của Đảng, Nhà nước. Những nương thuốc phiện dần được thay thế bằng màu xanh của ngô, màu vàng của cải dầu, mở ra một hướng phát triển mới no ấm hơn.

Người giữ lửa “kết đoàn”

Nhắc đến ông Sùng Đại Dùng, nhiều người thường liên tưởng đến hình ảnh cây sa mộc bám đá lặng lẽ, bền bỉ giữa đại ngàn. Cũng như cây sa mộc ấy, trọn cuộc đời công tác, ông chọn cách gắn mình với đồng bào, với những bản làng xa xôi để lắng nghe, sẻ chia và kết nối lòng người. Trong hai nhiệm kỳ giữ cương vị Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, ông không chỉ là người đứng đầu một tổ chức chính trị - xã hội mà còn trở thành địa chỉ tin cậy của đồng bào các dân tộc vùng cao.

Người dân gọi ông là “cây đại đoàn kết”, nhờ những đóng góp thực tiễn, sâu sắc thay vì lý thuyết suông. Trong ký ức của Nhà báo Đặng Phương Hoa, nguyên cán bộ Báo Hà Giang, ông Sùng Đại Dùng là người có biệt tài biến những điều tưởng chừng khô khan thành những câu chuyện đời thường mà ai cũng có thể hiểu và ghi nhớ.

Có lần về cơ sở tuyên truyền về khối đại đoàn kết dân tộc, ông nói với bà con: “Người Dao, người Tày, người Kinh, người Mông... tuy mặc trang phục khác nhau, nhưng khi cởi ra thì đều giống nhau hết”. Câu nói hóm hỉnh nhưng đã chuyển tải một chân lý mộc mạc: sự khác biệt về dân tộc, phong tục hay trang phục không làm thay đổi tình nghĩa đồng bào và sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc. Đó cũng là phong cách dân vận rất riêng của ông Sùng Đại Dùng.

Làng cổ dân tộc Mông, xã Ma Lé quê hương ông Sùng Đại Dùng đang đổi thay từng ngày.
Làng cổ dân tộc Mông, xã Ma Lé quê hương ông Sùng Đại Dùng đang đổi thay từng ngày.

Trong suốt hai nhiệm kỳ giữ cương vị Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh, ông chọn cách đi vào lòng người bằng sự chân thành. Khi vận động người dân bảo vệ rừng, ông ví những quả đồi bị chặt phá giống như “người bị cạo trọc đầu”, không còn khả năng giữ nước. Những năm vùng cao xuất hiện tình trạng truyền đạo trái pháp luật, ông Dùng là người trực tiếp xuống cơ sở.

Tại xã Khau Vai ông phân tích bằng chính phong tục, tín ngưỡng và truyền thống của người Mông, giúp đồng bào hiểu đâu là giá trị cần gìn giữ, đâu là những luận điệu sai trái cần cảnh giác. Không áp đặt, không giáo điều, sự chân thành và thấu tình đạt lý trong cách nói của ông đã tạo nên sức thuyết phục đặc biệt. Uy tín ấy còn được thể hiện qua những vụ việc ở cơ sở. Người dân các bản làng xa xôi mỗi khi xảy ra tranh chấp đất đai, mâu thuẫn dòng họ hay chuyện gia đình thường tìm đến “ông già Dùng” để nhờ phân xử.

Bằng sự công tâm và am hiểu phong tục, ông khéo léo kết hợp giữa pháp luật với những quy ước tiến bộ của cộng đồng để hóa giải bất đồng, giữ gìn sự đoàn kết trong bản làng. Nói về người tiền nhiệm, ông Bàn Đức Vinh, nguyên Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh cho biết: “Ông Sùng Đại Dùng luôn nhắc cán bộ Mặt trận phải biết lắng nghe dân. Ông yêu cầu cán bộ hiểu tiếng dân tộc, hiểu phong tục và phải thực sự bám cơ sở. “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin” không chỉ là khẩu hiệu mà trở thành phương châm hành động của cả hệ thống Mặt trận tỉnh trong nhiều năm.

Những kinh nghiệm trong công tác Mặt trận, công tác dân vận và phong cách gần dân của ông vẫn là bài học quý với nhiều cán bộ trẻ khi ấy”. Ông Sùng Đại Dùng đã đi xa, nhưng trong lòng đồng bào các dân tộc vùng cao, ông vẫn là “cây đại đoàn kết” của miền cực Bắc. Giống như cây sa mộc bền bỉ bám rễ trên đá, ông đã dành trọn cuộc đời để gieo niềm tin, kết nối lòng dân và vun đắp khối đại đoàn kết. Những giá trị ấy vẫn tiếp tục lan tỏa, trở thành di sản quý báu cho các thế hệ hôm nay.

Quỳnh Châu


Ý kiến bạn đọc


Cùng chuyên mục
Trở lại Làng Ngòi
Khi nhắc đến làng Ngòi, Đá Bàn (phường Mỹ Lâm), mỗi người dân Tuyên Quang đều tự hào về vùng đất đã nuôi dưỡng và minh chứng cho tình đoàn kết hữu nghị gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt - Lào. Nơi đây không chỉ lưu giữ nhiều chứng tích lịch sử mà còn in đậm những dấu ấn sâu sắc của Bác Hồ với nhân dân địa phương.
30/05/2026
Cánh cửa mở giữa đại ngàn
Nằm sâu trong khu rừng già với những tán cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi, ngôi miếu thờ thần rừng Mo Đổng Trư của người Nùng, xã Thàng Tín là khu vực rừng thiêng. Hàng trăm năm nay, chỉ có đàn ông được vào làm lễ, cấm phụ nữ đến gần vì quan niệm “không thanh sạch”, sẽ mang họa cho làng. Nhưng với quyết tâm “phá băng” định kiến, phụ nữ Nùng đã mạnh mẽ vươn lên, bình đẳng cùng nam giới bước vào ngôi đền thiêng.
27/05/2026
Ý Đảng, lòng Dân ở Suối Thầu 2
Nằm bình yên dưới chân những dãy núi mờ sương, thôn Suối Thầu 2, xã Hoàng Su Phì đang từng ngày khoác lên mình sắc màu mới. Sự chuyển mình mạnh mẽ, rũ bỏ những nếp nghĩ cũ kỹ nơi đây không phải tự nhiên mà có, mà được khơi nguồn từ một hành trình lặng lẽ nhưng bền bỉ đó là hành trình học tập và làm theo lời Bác từ những việc làm giản dị nhất của mỗi người dân.
27/05/2026
Nhịp sống mới ở Suối Đồng
Cách đây 45 năm, từ những đỉnh núi mờ sương của vùng cực Bắc, 22 hộ dân người Mông đã thực hiện một cuộc “hạ sơn” định mệnh, rời bỏ dốc đá tai mèo quen thuộc để tìm về vùng đất mới Suối Đồng. Hơn 4 thập kỷ mưu sinh, từ những bàn tay trắng, người Mông Suối Đồng đã viết nên “bài ca vỡ đất” mãnh liệt, “gạn đục khơi trong” văn hóa, tiến tới cuộc sống văn minh.
26/05/2026