Ký ức Thành cổ
Trở lại thôn Bản Tụm, xã Tân Mỹ, trong căn nhà giản dị nằm nép mình nơi ngõ nhỏ, vợ chồng cựu chiến binh Quan Văn Nhài và Nguyễn Thị Kìm vẫn giữ nếp sống mộc mạc, chân tình như thuở nào. Trên bức tường nhỏ, những tấm huân, huy chương được treo ngay ngắn, gợi nhắc về một thời hoa lửa. Ít ai biết rằng, người đàn ông dáng người nhỏ bé, hiền lành ấy từng là mạch sống thầm lặng nơi chiến trường Thành cổ Quảng Trị…
Người lính đi trong lằn ranh sinh tử
Nhắc về những năm tháng tham gia chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, giọng ông Nhài chậm lại, những ký ức tưởng như đã lùi xa, nhưng mỗi khi nhắc đến vẫn vẹn nguyên. Ông kể, khác với bộ binh trực tiếp cầm súng xung trận, lính hậu cần không được phép đánh giặc, nhiệm vụ của họ là giữ sức, giữ quân để vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược, thuốc men đến các điểm chốt. “Công việc tưởng nhẹ mà không hề nhẹ, mỗi ngày chúng tôi gánh hàng chục cân, đi bộ hàng chục cây số. Đường đi toàn hố bom, có đoạn vừa đi vừa phải tránh pháo kích. Nhưng không ai dám chậm, vì phía trước đang chờ tiếp tế”, ông Nhài nhớ lại.
Những chuyến đi thường diễn ra trong đêm, từng đoàn người lặng lẽ nối nhau, men theo những con đường mòn, vượt suối, băng rừng. Mỗi bước chân là một lần đối diện với hiểm nguy. Với ông Nhài, mỗi chuyến đi là một lần vượt qua ranh giới giữa sự sống và cái chết, không ít đồng đội của ông đã ngã xuống trên những cung đường tiếp tế. Ông Nhài nhớ như in một lần suýt nằm lại, đó là một đêm mưa, khi ông cùng tổ vận chuyển đang vượt qua một bãi trống thì pháo địch bất ngờ dội xuống. Đất đá tung lên, ánh chớp lóe sáng trong màn đêm. Một mảnh pháo găm sượt qua vai, ông ngã xuống hố bom cũ. Lúc đó nếu ông dừng lại thì hàng không đến kịp, anh em phía trước sẽ gặp nguy hiểm. Vì vậy mà ông nén đau, ôm lại gùi hàng, cùng đồng đội tiếp tục băng đi trong mưa pháo. Đến điểm chốt, khi đặt được hàng xuống, ông mới thấy vai áo đã thấm máu từ lúc nào.
![]() |
| Cựu chiến binh Quan Văn Nhài, thôn Bản Tụm, xã Tân Mỹ ôn lại ký ức những ngày vận chuyển hàng hóa tới các điểm chốt trong cuộc chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. |
Để được đứng trong hàng ngũ quân đội, ông Nhài đã phải đăng ký nhập ngũ đến ba lần. Sinh năm 1948, năm 1972 ông tình nguyện xin nhập ngũ nhưng không đạt tiêu chuẩn vì vóc dáng quá thấp bé. Không nản lòng, ông tiếp tục làm đơn và đến lần thứ ba mới được chấp nhận. Sau đó, ông được phân công về Đơn vị C12, Ban Hậu cần Tỉnh đội Quảng Trị.
Giữa những ngày tháng gian khổ ấy, tình đồng chí, đồng đội trở thành điểm tựa lớn nhất. Họ chia nhau từng ngụm nước, từng nắm cơm, động viên nhau vượt qua gian khó. Và cũng nơi Thành cổ Quảng Trị ấy, ông Nhài đã gặp người con gái Quảng Trị Nguyễn Thị Kìm. Theo lời kể của ông thì ông, bà gặp nhau trong những lần làm nhiệm vụ, dù không có nhiều thời gian trò chuyện, chỉ là những câu hỏi thăm vội vàng nhưng dần dần lại thấy thương nhau. Bà Kìm chia sẻ: “Anh ấy nhỏ người nhưng rất nhanh nhẹn, việc gì cũng xung phong làm, thấy vậy nên tôi quý. Thời chiến, chỉ cần có người quan tâm, một vài lời động viên trao nhau là đã ấm lòng rồi”. Tình yêu của ông bà nảy nở giữa bom đạn, không lời hẹn ước dài lâu nhưng lại bền chặt bởi sự đồng cảm và sẻ chia. Đó là thứ tình cảm được tôi luyện trong gian khó, đủ sức đi cùng họ suốt đến suốt cuộc đời.
Dựng xây cuộc sống mới
Rời chiến trường, ông Nhài mang theo không chỉ ký ức, mà còn cả một mối duyên. Người con gái Quảng Trị quyết định theo ông về Tuyên Quang cùng nhau xây dựng cuộc sống. Bà kể: “Ngày đó về đây vất vả lắm, cái gì cũng thiếu, nhưng hai vợ chồng cứ động viên nhau, có sức thì làm, không ngại khổ”. Để có thể giao tiếp với mọi người, ông dạy bà tiếng dân tộc Tày, tình yêu của ông giúp bà vượt qua những khó khăn ban đầu một lòng cùng ông xây nên gia đình hạnh phúc với 6 người con.
Trở về đời thường, ông Nhài tiếp tục phát huy phẩm chất người lính, ông tham gia công tác tại hợp tác xã, rồi được tín nhiệm bầu làm Trưởng thôn Bản Tụm trong nhiều năm. Ở cương vị nào, ông cũng tận tụy, trách nhiệm, luôn đi đầu trong mọi phong trào. Ông luôn nghĩ, làm cán bộ thôn thì phải gương mẫu, việc gì khó mình làm trước để bà con tin, sau đó mình nói bà con mới nghe. Từ việc vận động nhân dân phát triển sản xuất đến xây dựng đời sống văn hóa, ông đều trực tiếp tham gia, kiên trì thuyết phục. Nhờ sự gần gũi, chân thành, ông luôn nhận được sự tin tưởng của bà con. Thôn Bản Tụm từng bước đổi thay, đời sống người dân ngày càng ổn định. Con trai ông, anh Quan Văn Hoài tự hào chia sẻ: “Với chúng tôi, bố mẹ không chỉ là chỗ dựa của gia đình mà còn là tấm gương để noi theo. Bố ít khi nói nhiều về chiến tranh, nhưng mỗi câu chuyện ông kể đều khiến chúng tôi hiểu rằng cuộc sống hôm nay được đánh đổi bằng biết bao gian khổ, hy sinh. Bố mẹ dạy chúng tôi sống giản dị, chăm chỉ, biết nghĩ cho người khác. Đó là những điều theo chúng tôi suốt cả cuộc đời”.
Không chỉ là điểm tựa của gia đình, ông bà còn là tấm gương trong cộng đồng. Đồng chí Hà Văn Thiếp, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Tân Mỹ cho biết: “Gần 55 năm tuổi Đảng là minh chứng rõ nét cho sự kiên định, bền bỉ của cựu chiến binh Quan Văn Nhài. Dù trong chiến tranh hay trở về đời thường, ông vẫn luôn giữ vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tận tụy, trách nhiệm, nói đi đôi với làm. Ở địa phương, ông không chỉ là hội viên gương mẫu mà còn là người âm thầm truyền lửa, kể lại những câu chuyện chiến trường bằng tất cả sự chân thành, để thế hệ trẻ hiểu và trân trọng hơn giá trị của hòa bình hôm nay”.
Giờ đây, khi chiến tranh đã lùi xa, cuộc sống đã đủ đầy hơn, nhưng những ký ức về một thời lửa đạn vẫn luôn hiện hữu trong tâm trí ông bà. Những tấm huân chương trên tường không chỉ nhắc về quá khứ, mà còn như minh chứng cho một mạch sống bền bỉ vẫn tiếp tục chảy từ chiến trường Thành cổ đến hiện tại bình yên.
Phóng sự: Trang Hoàng











Ý kiến bạn đọc