Kết nghĩa anh em, xây khối đại đoàn kết - Bài cuối: Niềm tin mở lối, nghĩa tình đơm hoa

08:47, 31/07/2026

 

>>>Bài 1: Lời thề kết nghĩa dưới nếp nhà Tày - Mông

Từ mạch nguồn nghĩa tình được gìn giữ qua nhiều thế hệ đã kết tinh thành tài sản quý giá ở Du Già (Tuyên Quang) đó là niềm tin giữa cộng đồng các dân tộc. Chính niềm tin ấy mở lối cho sự sẻ chia, đồng thuận trong phát triển, hòa quyện trong bản sắc và khát vọng cống hiến của thế hệ trẻ. Bởi vậy, Ngày hội Nghĩa tình không chỉ được gìn giữ như một di sản văn hóa, mà còn được viết tiếp bằng những đổi thay trong đời sống, để đại đoàn kết trở thành sức mạnh nội sinh của cộng đồng hôm nay.

Niềm tin thành “vốn liếng”

Nơi đại ngàn Du Già, có những “đồng vốn” không được đong đếm bằng tiền bạc, mà định giá bằng niềm tin giữa người với người. Hộ có điều kiện sẵn lòng trao đi con giống; bên nhận giữ trọn chữ tín để cùng gây dựng sinh kế. Tiên phong gieo những “đồng vốn” đặc biệt ấy là ông Nguyễn Văn Thích - người nông dân Tày ở thôn Bản Lè.

Từ sức mạnh
đại đoàn kết,
những bản làng ở
xã Du Già ngày càng khởi sắc.
Từ sức mạnh đại đoàn kết, những bản làng ở xã Du Già ngày càng khởi sắc.

Ông Thích kể: “Ngày mới lập gia đình, tài sản đáng giá nhất của vợ chồng tôi chỉ có một con lợn nái. Bán được lứa lợn đầu tiên, tôi dành tiền mua dê; đàn dê phát triển lại tích cóp để nuôi bò. Cứ thế, từng bước gây dựng cơ nghiệp”. Từ những vòng quay nhỏ của chăn nuôi, có thời điểm, gia đình ông sở hữu 50 con lợn nái, gần 100 con dê, hơn 100 con bò sinh sản, vươn lên trở thành hộ sản xuất, kinh doanh giỏi của xã.

Đi lên từ gian khó, ông Thích hiểu rằng với người vùng cao, con bò là “đầu cơ nghiệp”, con dê, con lợn chính là vốn liếng để bắt đầu một cuộc sống mới. Nhưng trong bản vẫn còn nhiều hộ nghèo, nhiều đôi vợ chồng trẻ, nhiều gia đình đông con có sức lao động nhưng không có vốn sản xuất. Từ trăn trở ấy, ông nghĩ ra cách “nuôi rẽ”. Gia đình ông lần lượt giao bò, dê và lợn nái sinh sản cho các hộ người Tày và người Mông cùng chăm sóc. Khi vật nuôi sinh sản, người nhận nuôi luôn được ưu tiên tích lũy vốn trước. Với bò, lứa bê đầu tiên thuộc về hộ chăn nuôi, những lứa sau mới chia theo thỏa thuận; với lợn nái, dù lứa đầu sinh 5, 7 hay 10 con, ông đều để người nuôi giữ lại toàn bộ để gây dựng đàn, chỉ từ lứa thứ hai mới nhận lại 1 - 2 con. Ông tâm niệm: “Muốn người ta thoát nghèo thì trước hết phải để họ có vốn”.

Điều đáng quý hơn cả là mô hình ấy được vận hành hoàn toàn bằng chữ tín. Không hợp đồng, không giấy tờ, không tài sản bảo đảm. Có những con bò trị giá 15 - 20 triệu đồng, một tài sản rất lớn với người vùng cao, nhưng ông Thích sẵn sàng giao cho người khác. “Nếu vật nuôi không may bị bệnh, hai bên cùng tìm cách cứu chữa; nếu không cứu được thì tôi mất vốn, người nuôi mất công, không ai phải bồi thường cho ai”, ông Thích nói.

Chính cách sẻ chia rủi ro ấy đã biến niềm tin thành vốn liếng để nhiều gia đình gây dựng sinh kế. Từ chỗ không có vốn sản xuất, gia đình ông Sùng Chá Di đã gây dựng đàn bò lên 8 con, vươn lên thoát nghèo vào năm 2024. Gia đình ông Vàng Mí Páo cũng phát triển được đàn dê, đàn bò hơn 10 con, từng bước ổn định sinh kế. Từ vài hộ ban đầu, mô hình “nuôi rẽ” lan tỏa tới nhiều thôn bản, kết nối người Tày và người Mông trong một vòng quay sẻ chia sinh kế, góp phần nâng tổng đàn gia súc của xã Du Già lên gần 16.900 con và gia cầm hơn 53.600 con.

Sẻ chia tấc đất, mở lối tương lai

Đất đai luôn là tài sản quý của mỗi gia đình. Nhưng ở xã Du Già, khi bản làng cần mở đường, người dân sẵn sàng hiến đất; khi cần tổ chức lại sản xuất, họ chủ động đổi đất để hình thành những thửa ruộng, nương liền khoảnh. Từ ranh giới của từng hộ, đất trở thành sợi dây kết nối cộng đồng, mở lối phát triển và bồi đắp khối đại đoàn kết.

Địa hình chia cắt từng là trở ngại lớn nhất của Du Già. Người Mông chủ yếu sinh sống trên các sườn núi, người Tày quần cư ở vùng thấp; muốn xuống trung tâm xã, nhiều hộ vùng cao phải đi qua đất sản xuất của các hộ phía dưới. Thế nhưng, những thửa đất ấy không trở thành ranh giới của quyền lợi, mà được người dân cùng sẻ chia để mở lối cho lợi ích chung. Minh chứng rõ nhất là tuyến đường giữa hai thôn Làng Khác và Khau Đáy (cũ). Để tuyến đường dài 3 km, rộng 3,5 m được bê tông hóa, 128 hộ dân thôn Làng Khác đã tự nguyện hiến 7.800 m2 đất, đóng góp hơn 1.000 ngày công cùng Nhà nước thực hiện công trình. Tuyến đường hoàn thành không chỉ giúp 126 hộ dân Khau Đáy đi lại thuận lợi hơn, mà còn mở thêm cơ hội phát triển cho cả hai thôn.

Từ câu chuyện tiên phong ấy, tinh thần đồng thuận đã lan tỏa thành cách làm chung ở Du Già. Hàng loạt tuyến đường như Cốc Pảng - Phìn Tỷ (2,4 km), Cốc Pảng - Ngài Sảng (3,2 km), Cốc Pảng - Giàng Trù A, Giàng Trù B (6,5 km), Cốc Pảng - Lũng Dầm (1,2 km), Cốc Pảng - Thâm Luông (2,5 km)... đều được người dân tự nguyện hiến đất, góp công để mở rộng từ 1 - 1,5 m lên 3 - 3,5 m và bê tông hóa. Trưởng thôn Làng Khác Giàng Mí Gió chia sẻ: “Mỗi m2 đất đều là tư liệu sản xuất và là tài sản quý được chắt chiu qua nhiều thế hệ, nhưng nếu giữ lại phần đất của mình chỉ tạo thuận lợi cho một gia đình, còn lùi đi một phần sẽ mở ra cơ hội cho cả bản làng. Vì thế, chúng tôi chấp nhận nhường một phần sinh kế hôm nay để đổi lấy không gian phát triển của ngày mai”.

Không chỉ mở đường, người dân xã Du Già còn chủ động mở rộng không gian sản xuất bằng những cuộc đổi đất tự nguyện. Tại thôn Làng Khác và Giàng Trù A, ông Nguyễn Văn Binh đổi 2.000 m2 đất với ông Ly Mí Sính; ông Nguyễn Văn Thanh đổi 1.700 m2 với ông Ly Vả Sì. Không chỉ riêng các hộ trên, nhiều gia đình người Tày và người Mông cũng chủ động hoán đổi đất để hình thành những vùng sản xuất liền thửa, liền khoảnh, khắc phục tình trạng manh mún, tạo nền tảng cho sản xuất hàng hóa, cơ giới hóa nông nghiệp và nâng cao hiệu quả canh tác. Ông Nguyễn Văn Binh (thôn Làng Khác) cười hiền: “Đất vẫn từng ấy thôi, chỉ đổi cho nhau để cùng thuận lợi hơn. Trước kia ruộng, nương chia nhỏ, đi cả buổi mới làm hết. Giờ liền khoảnh rồi, làm nhanh hơn, đỡ vất vả hơn”.

Vợ chồng anh Nguyễn Văn Lượng - Vừ Thị Say (thứ 2 và 3 từ phải sang) được các chủ homestay chia sẻ kinh nghiệm gìn giữ bản sắc gắn với phát triển du lịch cộng đồng.
Vợ chồng anh Nguyễn Văn Lượng - Vừ Thị Say (thứ 2 và 3 từ phải sang) được các chủ homestay chia sẻ kinh nghiệm gìn giữ bản sắc gắn với phát triển du lịch cộng đồng.

Hai dòng chảy văn hóa dưới một mái nhà

Du Già là mái nhà chung của 9 dân tộc anh em, trong đó đồng bào Tày, Mông chiếm 92% dân số. Ông Nguyễn Văn Huyện, Trưởng thôn Cốc Pảng kể: “Sau khi hóa giải hiềm khích của hai người anh em Tày - Mông, cánh cửa giao lưu giữa hai cộng đồng cũng được mở ra. Từ đó, trai gái hai dân tộc có dịp gặp gỡ, tìm hiểu và nên duyên”.

Từ huyền tích của Ngày hội Nghĩa tình, sự gắn bó giữa đồng bào Tày và Mông đã trở thành nếp sống trong cộng đồng, hiện hữu qua mái ấm của các cặp vợ chồng Gen Z như: Nguyễn Văn Thực - Mua Thị Giàng, Nguyễn Văn Nghệ - Giàng Thị Lý hay Nguyễn Văn Lượng - Vừ Thị Say... Anh Nguyễn Văn Lượng (thôn Cốc Pảng) kể: “Bao đời nay, từ ông bà đến bố mẹ tôi đều là những cuộc hôn nhân trong cộng đồng người Tày. Đến thế hệ của tôi, người bạn đời tôi chọn là cô gái Mông - Vừ Thị Say. Khi quyết định đến với nhau, chúng tôi chưa bao giờ nghĩ mình là người Tày hay người Mông. Điều quan trọng là cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, gìn giữ nét đẹp truyền thống của cả hai bên, cùng làm ăn, cùng nuôi dạy con cái để sau này các con biết yêu và tự hào về cả hai cội nguồn”.

Sau lễ cưới năm 2025, thay vì rời quê tìm việc, Lượng và Say chọn ở lại Du Già để hiện thực hóa ước mơ mở homestay. Hành trình khởi nghiệp của họ được tiếp sức bởi tinh thần sẻ chia khi những chủ homestay đi trước sẵn sàng truyền nghề, cùng nhau nâng chất lượng dịch vụ và xây dựng hình ảnh điểm đến. Trong số đó, bà Nguyễn Thị Tứ (thôn Cốc Pảng) đã tận tình chia sẻ kinh nghiệm đúc kết trong quá trình xây dựng và vận hành Wooden Homestay mang đậm bản sắc Tày của gia đình mình cho đôi vợ chồng trẻ.

Tiếp thu kinh nghiệm ấy cùng tư duy lấy bản sắc làm nền tảng phát triển du lịch của bà Tứ, anh Lượng nhận ra rằng sức hút của homestay không nằm ở sự cầu kỳ, mà ở câu chuyện văn hóa được kể chân thực. Anh chia sẻ: “Chúng tôi sẽ đưa văn hóa Tày - Mông vào từng trải nghiệm đón khách, để sự khác biệt không tạo nên khoảng cách mà cùng làm nên vẻ đẹp đa sắc của Du Già”.

Hiện xã Du Già có 42 hộ kinh doanh homestay. Lượng khách trung bình: 300 - 1.500 lượt khách/ngày. Trong 6 tháng đầu năm 2026, các homestay đón hơn 70.500 lượt khách quốc tế lưu trú, doanh thu du lịch ước đạt trên 28 tỷ đồng. Mỗi homestay không chỉ là một điểm lưu trú, mà còn là nơi người dân kể câu chuyện về văn hóa, con người và tinh thần đoàn kết của Du Già.

Sức trẻ viết tiếp lời thề đoàn kết

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, xã Du Già giảm từ 29 thôn xuống còn 12 thôn. Cùng với sự mở rộng về quy mô và địa bàn quản lý, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ cơ sở cũng ngày càng cao. Trước yêu cầu ấy, xã Du Già đã chủ động trẻ hóa đội ngũ, chuẩn bị lớp cán bộ kế cận ngay từ thôn bản để tăng cường vai trò hạt nhân của tổ chức Đảng và củng cố sức mạnh đại đoàn kết từ cơ sở.

Trong 193 cán bộ không chuyên trách ở các thôn, có 110 người thuộc thế hệ 9X và 2K (chiếm 57%). Họ phần lớn là con em dân tộc Tày, Mông đảm nhiệm nhiều vị trí nòng cốt trong hệ thống chính trị ở cơ sở.

Ở tuổi 26, anh Mua Mí Sử được bà con tín nhiệm bầu làm Trưởng thôn Giàng Trù A, địa bàn có 239 hộ dân. Anh Sử chia sẻ: “Tôi nghĩ điều quý nhất mà bà con trao cho mình không phải là chức danh, mà là sự tin tưởng. Vì thế, tôi luôn tự nhắc mình phải gần dân, lắng nghe dân, phối hợp chặt chẽ với chi bộ và các đoàn thể để quy tụ sự đồng thuận. Khi đồng bào các dân tộc cùng chung tiếng nói, chung mục tiêu, việc khó đến đâu cũng có thể tháo gỡ, bản làng mới vững vàng phát triển”.

Tinh thần ấy tiếp tục được lan tỏa ở Cốc Pảng, thôn đông dân nhất xã Du Già với 362 hộ, được hình thành trên cơ sở sáp nhập thôn Cốc Pảng, Nà Liên và tiếp nhận thêm 25 hộ từ 3 thôn lân cận. Đảm nhiệm cương vị Trưởng ban Công tác Mặt trận ở tuổi 30, anh Hầu Mí Say coi việc gắn kết cộng đồng là trách nhiệm lớn nhất của mình. Anh chia sẻ: “Sau sắp xếp, điều quan trọng nhất là để bà con dù trước đây thuộc thôn nào cũng cùng coi Cốc Pảng là mái nhà chung. Mặt trận phải làm tốt vai trò tập hợp, lắng nghe và phát huy sức dân để mỗi chủ trương đều được Nhân dân đồng tình, chung sức thực hiện”.

Còn tại thôn Thâm Luông, Bí thư Chi bộ Nguyễn Thị Xiêm (sinh năm 1995), người Tày và Trưởng thôn Thào Mí Dia (sinh năm 2001), người Mông đang đảm đương hai vị trí chủ chốt của thôn. Dù khác dân tộc, khác cương vị nhưng họ cùng chung một đích đến: Biến sự đồng thuận của Nhân dân thành sức mạnh dựng xây bản làng phồn vinh, hạnh phúc.

Ngày hội Nghĩa tình rồi sẽ khép lại sau mỗi mùa xuân, nhưng mạch nguồn ấy vẫn tiếp tục được viết bằng những việc làm bình dị mỗi ngày: Niềm tin được trao đi, nguồn lực được sẻ chia, bản sắc được gìn giữ và trách nhiệm được tiếp nối qua các thế hệ. Từ lời thề kết nghĩa anh em giữa hai dân tộc Tày và Mông, đại đoàn kết đã lan tỏa, trở thành nếp sống, thành nguồn lực nội sinh, đưa Du Già vững bước trên hành trình phát triển nhanh và bền vững.

Bài, ảnh: Chúc Huyền, Diệu Kỳ, Hoàng Hà, Thu Phương, Biện Luân


Ý kiến bạn đọc


Cùng chuyên mục
Nối những bờ vui
Không phát biểu suông, không chỉ đạo xa rời thực tế, Bí thư Đảng ủy xã Tiên Yên Hoàng Trọng Khoắn khẳng định vai trò bằng những hành động cụ thể. Từ việc gõ cửa vận động kinh phí đến xắn tay làm đường, bắc cầu, người đứng đầu xã đã khơi thông các tuyến giao thương, từng bước thay đổi địa phương.
31/07/2026
Giữ bản sắc người Tày ở Thượng Nông
Giữa muôn trùng mây vờn sương giăng của miền núi rừng Thượng Nông, thôn Đống Đa hiện lên tựa như một bức tranh thủy mặc tuyệt mỹ và tĩnh tại. Trải qua bao biến thiên thăng trầm của lịch sử, đồng bào dân tộc Tày nơi đây vẫn lặng lẽ gìn giữ những giá trị văn hóa lâu đời.
30/07/2026
Kết nghĩa anh em, xây khối đại đoàn kết - Bài 1: Lời thề kết nghĩa dưới nếp nhà Tày - Mông
Ở xã Du Già (Tuyên Quang) khởi nguồn từ tục "kết tồng" - nét văn hóa kết nghĩa anh em thiêng liêng từ thuở khai thiên lập địa, tình cảm gắn kết giữa đồng bào Tày và người Mông đã vượt khỏi phạm vi dưới những nếp nhà để trở thành "chất keo" kết dính cả bản làng.
30/07/2026
Trái ngọt từ ý chí người lính
Rời mặt trận Hà Giang sau cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, cựu chiến binh Đỗ Văn Thể, tổ dân phố Giếng Đõ, phường Mỹ Lâm lại bắt đầu một hành trình mới trên vùng đất kinh tế mới. Từ những ngày khai hoang gian khó đến khi xây dựng mô hình kinh tế hiệu quả, rồi hơn hai thập kỷ tận tụy với công việc của thôn, mỗi chặng đường của ông đều in đậm bản lĩnh, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm của người lính Cụ Hồ. Những trái ngọt hôm nay không chỉ được vun đắp từ mồ hôi và nghị lực, mà còn từ ý chí của một người lính chưa bao giờ ngừng cống hiến.
30/07/2026