Kết nghĩa anh em, xây khối đại đoàn kết - Bài 1: Lời thề kết nghĩa dưới nếp nhà Tày - Mông
Ở xã Du Già (Tuyên Quang) khởi nguồn từ tục "kết tồng" - nét văn hóa kết nghĩa anh em thiêng liêng từ thuở khai thiên lập địa, tình cảm gắn kết giữa đồng bào Tày và người Mông đã vượt khỏi phạm vi dưới những nếp nhà để trở thành "chất keo" kết dính cả bản làng.
Thông qua những câu chuyện chân thực về lời thề kết nghĩa, về những ngày hội nghĩa tình và các thế hệ nối tiếp gìn giữ truyền thống, loạt bài "Kết nghĩa anh em, xây khối đại đoàn kết" khắc họa một hành trình sống động: Khi văn hóa trở thành nền tảng của lòng tin, tình anh em mộc mạc sẽ hóa thành sức mạnh cộng đồng, trở thành nguồn lực nội sinh bền vững để các bản làng biên cương vững vàng phát triển.
Bài 1: Lời thề kết nghĩa dưới nếp nhà Tày - Mông
>>>Bài cuối: Niềm tin mở lối, nghĩa tình đơm hoa
Nếu ai đó hỏi sức mạnh của sự đoàn kết mang hình dáng gì, xin hãy một lần về với xã Du Già, Tuyên Quang. Ở nơi rẻo cao sương phủ ấy, sự gắn kết hiện diện thật dung dị: là bát mèn mén dẻo thơm đặt cạnh đĩa xôi ngũ sắc, là mái nhà trình tường của người Mông nương tựa vào nếp nhà sàn hiền hòa của người Tày. Bắt nguồn từ một lời thề son sắt giữa đại ngàn thuở khai thiên lập địa, tình anh em dị tộc đã bước qua mọi thăng trầm của thời gian để đơm hoa kết trái thành Ngày hội Nghĩa tình.
Giọt lệ hóa thác ngàn
Dưới chân dãy Ba Tiên hùng vĩ, nhìn từ trên cao, thung lũng Du Già, xã Du Già hôm nay là một bức tranh quần cư đa sắc. Ở đó, đồng bào Tày quây quần đầm ấm bên những nếp nhà sàn ven suối, còn đồng bào Mông lại nhẫn nại bám trụ nơi những triền dốc vắt vẻo sương mù. Thế nhưng, để có được bức tranh thuận hòa ấy, ít ai biết rằng cả hai dân tộc đã phải bước qua những tháng ngày giằng xé, đánh đổi bằng cả nước mắt để tìm lại sợi dây ruột thịt từ thuở hồng hoang.
![]() |
| Người dân xã Du Già gặp gỡ, giao lưu, cùng vun đắp đời sống văn hóa và khối đại đoàn kết trên quê hương. |
Để đi tìm cội nguồn của sự gắn kết ấy, chúng tôi men theo con đường dốc ngược lên thôn Ngài Sảng. Bên bếp lửa bập bùng trong ngôi nhà trình tường vách, cụ Giàng A Pháng - vị già làng người Mông năm nay đã bước sang tuổi 90 kể rằng:
"Ngày xửa ngày xưa, người Mông và người Tày ở cái thung lũng Du Già này vốn là anh em ruột. Tình anh em thuở ấy khăng khít như đôi chim rừng, đi đâu cũng có nhau. Hai dân tộc cùng chung lưng đấu cật, chia nhau từng bắp ngô nướng, từng hạt muối mặn mòi để chống chọi với thú dữ, thiên tai".
Nhưng rồi, cuộc sống sinh tồn khắc nghiệt giữa chốn thâm sơn cùng cốc khiến tình anh em dần nảy sinh mâu thuẫn. Những tranh cãi vụn vặt về ranh giới nương rẫy, bãi chăn thả khiến tình thân sứt mẻ. Để tránh cảnh huynh đệ tương tàn, các bậc tiền nhân hai bên đã quyết định dùng một cuộc thi để vạch rõ ranh giới: Ai leo lên đỉnh núi trước sẽ ở trên cao, ai chậm chân hơn sẽ ở dưới thấp.
Người Mông với đôi chân quen đạp đá tai mèo đã thoăn thoắt chinh phục đỉnh Ba Tiên, trọn đời gắn bó với cây ngô. Người Tày với đôi chân quen lội nước đành dừng bước ở thung lũng, gắn bó với ruộng lúa. Ranh giới vạch ra tưởng đã yên bề, nhưng sự chia cắt địa lý lại vô tình thổi bùng lên ngọn lửa của nỗi nhớ thương day dứt, cồn cào.
Tiếp nối câu chuyện dã sử ấy từ phía thung lũng, cụ Nông Văn Pảo, 78 tuổi, một già làng uy tín của đồng bào Tày ở thôn Cốc Pảng, bùi ngùi nhớ lại lời răn dạy của cha ông. Rót chén nước chè xanh thẳm, cụ Pảo nghẹn ngào tiếp lời: "Cái ranh giới vạch ra được trên tảng đá, cành cây, nhưng làm sao vạch được ở trong lòng người. Kẻ trên đỉnh núi ngóng xuống, người dưới thung lũng nhìn lên. Chiều chiều nhìn khói bếp bốc lên từ hai ngả, cái bụng người Tày lại nhớ người Mông da diết. Tổ tiên bảo rằng, từ ngày chia cắt, thiếu vắng nhau, củ sắn lùi không còn bùi, bát rượu ngô không còn ngọt, tiếng khèn, tiếng tính tẩu đều nhuốm màu cô độc”.
Theo lời hai vị già làng, nỗi khát khao đoàn tụ lớn đến mức khiến cả người Mông và người Tày khóc than thấu tận trời xanh. Nước mắt của sự ân hận và xót xa rơi xuống nhiều đến mức kết tinh thành ngọn thác Du Già tuôn trào trắng xóa. Giọt lệ hóa thành ngọn thác thiêng ấy chính là sự gột rửa mọi tị hiềm, là mạch nguồn đánh thức tình anh em máu thịt. Nhận ra không thể sống xa nhau, các già làng hai bên đã quyết định dâng lễ xin thần núi, thần sông bao dung cho con cháu đôi bên được nối lại tình xưa, trọn đời nương tựa vào nhau.
Chén rượu "kết tồng" và bản hương ước đặc biệt
Để tình anh em thực sự tạc vào năm tháng, bám rễ sâu vào đất đai và không bao giờ bị xói mòn, người Tày, người Mông quyết tâm thực hiện nghi lễ linh thiêng. Đó là: Lễ Kết tồng (Lễ kết nghĩa anh em). Trò chuyện với chúng tôi, ông Nông Văn Pảo - người uy tín của đồng bào Tày ở thôn Cốc Pảng, giải thích về sự thiêng liêng của nghi lễ này: "Với người Tày và người Mông ở Du Già, kết tồng không phải là chén rượu xã giao lúc trà dư tửu hậu, mà là huyết thề cậy nhờ trời đất chứng giám. Lịch sử bản làng còn truyền lại, ngày ấy, để hóa giải mọi ranh giới, các già làng người Tày và người Mông đã cùng nhau mổ một con gà trống trắng. Huyết gà được nhỏ cẩn thận vào bát rượu ngô sủi tăm. Những người đứng đầu hai dân tộc, đại diện cho muôn dân, cùng bước tới uống chung bát rượu huyết ấy, rồi cúi lạy bốn phương tám hướng. Rượu thấm vào môi, huyết thấm vào lòng. Từ giây phút linh thiêng ấy, dòng máu của hai dân tộc lại hòa làm một”.
Từ chén rượu "kết tồng" ấy, một bản hương ước đại ngàn đã ra đời. Không có giấy biên, chẳng có chữ ký hay bất kỳ một con dấu đỏ chót nào, nhưng quy ước truyền miệng ấy lại mang sức nặng ngàn cân.
Nghệ nhân Thào Nhè Chứ ở thôn Thâm Luông - người dành cả đời gìn giữ các nghi lễ truyền thống của người Mông - bồi hồi đọc lại cho chúng tôi nghe những điều khoản được khắc cốt ghi tâm: "Hương ước dạy rõ lắm: Hai dân tộc sống chết có nhau. Người Mông ở trên núi cao thì trồng ngô, người Tày ở dưới thung lũng thì cấy lúa, nuôi cá. Hai bên phải hỗ trợ nhau cùng tiến bộ. Người Mông đói, người Tày chia gạo; người Tày thiếu, người Mông nhường ngô. Có xích mích nhỏ to, người này phải tìm đến người kia, ngồi lại nghe già làng phân giải”.
Chính cái quy ước dung dị mà thấm đẫm tính nhân văn ấy đã biến sự khác biệt về địa lý và phương thức canh tác thành sức mạnh bổ trợ cho nhau. Không ai còn cảm thấy cô độc trên mảnh đất của mình. Những năm sương muối, mất mùa, người dưới thung lũng gùi gạo lên non cõng cái đói thay cho người anh em; những ngày giáp hạt, người trên núi lại thồ bắp ngô, mớ rau rừng xuống suối san sẻ cùng ruột thịt. Người Mông và người Tày tự nguyện lồng ghép vào đời sống của nhau, che chở cho nhau trước gió sương khắc nghiệt của biên ải.
Ngày hội Nghĩa tình
Hơn cả một bản hương ước truyền miệng, tình anh em giữa hai dân tộc Mông và Tày ở Du Già hôm nay đã vươn chồi, nảy lộc thành một biểu tượng sống động của khối đại đoàn kết: Ngày hội Nghĩa tình. Việc đồng bào chung tay duy trì ngày hội không chỉ là cách để gìn giữ nếp xưa, mà còn là một nghi thức trao truyền thiêng liêng, nhắc nhở các thế hệ cháu con khắc cốt ghi tâm về một tình nghĩa ruột thịt không bao giờ được phép phai nhạt.
Mỗi độ xuân về, vào dịp giữa tháng Ba âm lịch, khi trăm hoa đua nở rực rỡ khắp các sườn đồi, chim chóc hót vang gọi bạn đi xây tổ, đó cũng là lúc dân làng nô nức mở hội "Nối lại nghĩa tình" (trước đây gọi là Chợ Phong lưu). Ban đầu, ngày hội chỉ là không gian để những người anh em kết nghĩa gặp lại nhau sau một năm bám nương, bám rẫy, trao nhau cái nắm tay thật chặt để hỏi han mùa màng. Nhưng thuận theo dòng chảy của sự gắn kết, tiếng khèn Mông dìu dặt vắt ngang sườn đồi đã tự nhiên hòa quyện vào âm thanh trầm bổng của cây đàn Tính, điệu Then người Tày.
Giữa âm vang rộn rã của ngày hội, ông Vàng Mí Lử (dân tộc Mông, thôn Thâm Luông) siết chặt tay người anh em kết nghĩa dân tộc Tày của mình, xúc động bộc bạch: "Người Mông mình xuống núi đến hội không chỉ để nghe khèn đâu. Mình đi tìm người anh em đã kết nghĩa để uống chung bát rượu ngô, hỏi thăm cái nương, cái rẫy năm nay tốt không. Uống không phải để say, mà để nhớ lời thề kết nghĩa tình anh em dân tộc Tày - Mông của cha ông ngày trước, để răn dạy con cháu hai bên phải biết thương nhau. Ở đất Du Già này, Tày hay Mông thì cũng là ruột thịt, tình anh em còn vững chắc hơn cả đá núi Ba Tiên”.
Không chỉ củng cố tình thâm giao giữa các thế hệ đi trước, không gian hội hè ấy còn là nơi để thanh niên nam nữ xúng xính trong những bộ váy áo thêu hoa rực rỡ nhất trẩy hội tìm bạn đời, gửi gắm tình duyên. Chính từ "vườn ươm" đại đoàn kết ấy, ranh giới giữa hai dân tộc bị xóa nhòa, vô số những thiên tình ca liên dân tộc đã bước ra đời thực, bén rễ và tỏa bóng mát. Mái ấm của anh Nguyễn Gia Nhiệt (dân tộc Tày) và chị Thào Thị Lia (dân tộc Mông) ở thôn Nà Khác A là một minh chứng tuyệt đẹp cho sự dung hợp đó. Bén duyên từ tiếng khèn, điệu múa trong phiên hội tháng Ba, họ tựa vào nhau, đưa hai nền văn hóa hòa làm một.
Đang thoăn thoắt se những sợi lanh bên thềm nhà, chị Lia bẽn lẽn mỉm cười khi nhắc về cơ duyên của mình: "Lúc mới mến nhau rồi xin về làm dâu, mình cũng lo lắm vì phong tục hai bên có nhiều cái khác. Nhưng bố mẹ chồng bảo, dân tộc Tày hay Mông thì cũng là anh em máu mủ từ trong gốc rễ rồi. Cứ yêu thương, chăm chỉ làm ăn là được. Bây giờ, mâm cơm nhà mình lúc nào cũng có bát mèn mén dẻo thơm của người Mông đặt cạnh đĩa xôi ngũ sắc óng ả của người Tày. Vui cái bụng lắm!”.
Sự hòa hợp, gắn kết dưới những mái nhà nhỏ như gia đình chị Lia, anh Nhiệt khi nhân lên hàng trăm, hàng ngàn lần đã tạo thành một "thế trận lòng dân" vững chắc cho cả cộng đồng. Ở Du Già, nơi có 9 dân tộc cùng sinh sống, người Mông (chiếm 70%) và người Tày (hơn 22%) là hai cộng đồng cư dân chủ thể. Chính vì vậy, mối tình kết nghĩa keo sơn giữa dân tộc Tày và Mông không chỉ dừng lại ở phạm vi tình cảm giữa hai dân tộc, mà đã trở thành đòn bẩy, tạo ra chuyển biến tích cực trên toàn xã. Khi hai dân tộc đông nhất cùng chung một nhịp đập, mọi rào cản đều bị xóa bỏ, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của địa phương.
Nhận thức rõ giá trị của nguồn lực nội sinh ấy, Đảng bộ và chính quyền xã Du Già đã khéo léo biến di sản văn hóa truyền thống thành mạch ngầm đại đoàn kết. Đồng chí Hoàng Văn Mấm, Phó Chủ tịch UBND xã Du Già đầy tự hào chia sẻ: "Việc đổi tên từ Chợ Phong lưu thành Ngày hội Nghĩa tình không làm mất đi giá trị xa xưa, mà là bước đi chiến lược để mở rộng ý nghĩa của một di sản. Đây không chỉ là nơi bảo tồn văn hóa, mà chính là không gian sinh hoạt chính trị sâu rộng để quy tụ lòng dân. Thực tiễn ở Du Già cho thấy, khi chính quyền cần triển khai các chủ trương lớn, từ vận động hiến đất làm đường đến giữ gìn an ninh trật tự, chúng tôi luôn lấy tinh thần của Ngày hội Nghĩa tình ra làm điểm tựa, nhắc lại lời thề kết tồng của cha ông. Khi người dân đã thấu hiểu, coi nhau như ruột thịt, thì mọi chủ trương đều nhận được sự đồng thuận tuyệt đối”.
Câu chuyện ở thung lũng Du Già khẳng định: Đại đoàn kết toàn dân tộc không phải là một khái niệm xa vời, mà bắt nguồn từ chính sự thấu cảm, từ những giọt nước mắt chia ly thuở trước và từ cách các thế hệ hôm nay nâng niu di sản. Khi văn hóa trở thành cội rễ bám sâu vào lòng đất, những bản làng dẫu có sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục vẫn luôn đan chặt vào nhau, kiến tạo nên một khối thống nhất vững chãi như dãy Ba Tiên hùng vĩ, vĩnh viễn không bao giờ tách rờin
Bài, ảnh: Chúc Huyền, Diệu Kỳ, Hoàng Hà, Thu Phương, Biện Luân











Ý kiến bạn đọc