Bản Hảu xa xôi
Mới ra trường, về làm phóng viên thử việc tại một cơ quan báo chí của tỉnh, kế hoạch đầu tiên của tôi là phải đi viết cái gì đó thật hay, thật chững chạc và ấn tượng để ghi điểm với Tổng biên tập. Nhưng viết cái gì nhỉ? Quan trọng là chọn vấn đề để viết. Vấn đề phải vừa có tính phát hiện vừa có tính thời sự, sau đó cộng thêm một vài yếu tố khác thì bài viết mới thành công. Phải rồi! Tôi sẽ viết về xây dựng nông thôn mới. Địa chỉ đầu tiên tôi nghĩ đến là Bản Hảu, một xã đặc biệt, hằn sâu trong ký ức tuổi thơ và được tách ra từ chính Bản Lồ của tôi.
Tuổi trẻ là thế, nghĩ được thì làm ngay. Tôi báo cáo Tổng biên tập, nhảy lên chiếc xe enzo cũ kỹ phóng đi.
![]() |
| Minh họa: Bích Ngọc |
Bản Hảu kia rồi. Tôi ngỡ ngàng dừng lại, ngắm từ xa. Bản Hảu thay đổi khác quá, nhanh quá. Chủ tịch xã ra tiếp tôi, anh bắt tay tôi thật chặt, giọng Tày lơ lớ, khuôn mặt hoạt bát với nụ cười hiền thân thiện. Từng tiêu chí nông thôn mới đã có số liệu đầy đủ, những thuận lợi, khó khăn, sự chung tay nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Bản Hảu trong việc xây dựng nông thôn mới đã được tìm hiểu, phân tích, nhưng sao tôi vẫn thấy thiếu thiếu. Còn vấn đề này nữa, tôi quay sang hỏi Chủ tịch xã: “Nhân tố quan trọng nào giúp xã ta cán đích nông thôn mới hả anh?”. Chủ tịch xã lặng im một lúc rồi chậm rãi nói: “Nhân tố quan trọng à… Đó là câu hỏi hay nhất từ nãy đến giờ đấy. Tớ có thể trả lời được ngay, nhưng thay bằng câu trả lời, tớ dẫn cậu đến gặp một người, có thể cậu sẽ có những trang viết sâu hơn về Bản Hảu”.
Lòng vòng một lúc, Chủ tịch xã dẫn tôi đến trước một ngôi nhà sàn kiểu truyền thống của người Tày, cột rất to được sơn bóng màu nâu trầm. Phía bờ ao, một người đàn ông chừng gần năm mươi tuổi, da nâu bóng, vân váp, thấy có khách, ông đứng dậy, ra đón. Kìa khuôn mặt, dáng người thân quen quá. Người đàn ông lại gần, nhìn chăm chú vào mặt tôi thật lâu rồi ném con dao trên tay vào gầm sàn, nắm lấy tay tôi thật chặt, lại vỗ vào vai tôi bồm bộp: “Thằng Chài, con ông Kha, Bản Lồ phải không?!”. Đấy, ông còn biết cả tên cúng cơm của tôi nữa. Trời ơi, đúng rồi! Tôi reo lên: “Chú Lình!”. Chúng tôi vui mừng nhận ra nhau. Chú Lình dẫn tôi lên nhà, hỏi han, ôn lại đủ thứ chuyện. “Thời gian nhanh quá chú nhỉ? Ngày chú bỏ bản đi, nhiều người trong bản khi đó vừa thương vừa trách chú dại dột, tự lao đầu vào chỗ chết…”. “Ừ!... Thời gian, khát vọng sống, tình yêu, tình người đã làm thay đổi tất cả cậu ạ, cả tôi, cả Bản Hảu xa xôi này!…”. Giọng chú Lình chùng lại, ánh mắt dõi về phía Bản Lồ xa xăm. Còn tôi, bao nhiêu ký ức đang hiện về, rõ mồn một.
Ngày ấy, Bản Lồ chỉ độ ba chục nóc nhà sống ấm êm, đoàn kết. Chuyện bắt đầu từ khi ông Kẹn mắc một căn bệnh lạ. Lúc đầu chỉ là vài vết biến màu lốm đốm trên da, sau khắp các khớp tay, khớp chân và mặt sần sùi từng cục nhỏ rồi dần dần biến dạng trông như quỷ. Một thời gian sau, ngón chân, ngón tay ông Kẹn ngắn lại, những vết sần sùi to dần, rụng ra từng cục thịt. Khi ấy xã chưa có trạm xá. Vợ ông Kẹn mượn xe đạp chở chồng xuống tận bệnh viện huyện kiểm tra. Ông bác sĩ vạch quần áo lên xem rồi quay sang bảo: “Ông nhà bị bệnh phong, hay còn gọi là bệnh hủi, trên thế giới đã tìm được thuốc chữa, còn ở địa phương ta hiện vẫn bó tay”. Ông bác sĩ còn phân tích nhiều nữa, ông Kẹn chẳng muốn nghe, ông giục vợ đưa về sớm. Trẻ con Bản Lồ nhìn thấy ông Kẹn, mặt xanh như đít nhái, vắt chân lên cổ chạy bán sống bán chết. Người lớn thấy ông Kẹn đều lảng đi chỗ khác. Bệnh ông Kẹn càng ngày càng nặng, mắt mờ dần, chân đi lại chậm chạp. Ông tự mò mẫm lên sau nhà lấy cây bương đóng thành một cái mảng lớn, đuôi mảng ông lợp mái lên như cái lều con và kê vào trong đó một tấm phản để ngủ, một cái kiềng nấu ăn. Một hôm vợ con ông Kẹn đi trồng ngô ở chân núi Ngàng, chiều về không thấy ông Kẹn đâu nữa. Vậy là ông Kẹn đã quyết tâm bỏ đi để không làm khổ vợ con, không để căn bệnh hủi quái ác ấy lây lan sang dân bản. Không thể bỏ ông Kẹn thế được, mấy ngày sau vợ ông Kẹn mượn thuyền nan đạp đi khắp các đảo hồ tìm chồng. Đi vài hôm, ăn hết thức ăn mang theo vẫn chưa thấy, lại về, lấy gạo rồi lại đi. Chừng hơn một tháng, vợ ông Kẹn về, nước mắt lã chã rơi, nói với con gái: “Mẹ tìm thấy bố con rồi! Ngày mai mẹ sẽ ra ở cùng bố, nghĩa vợ tình chồng như dao chém nước không lìa… Con nghe lời mẹ, tương lai con còn dài, không thể chôn mình ở nơi rừng thẳm ấy được… Con hãy ở lại, chăm lo mồ mả, ruộng vườn, ở lại với thằng Lình, nhé! Con nhé! Mẹ sẽ về thăm con…”.
“Ngày đó?...” - Tôi định hỏi chú Lình nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu. Chú Lình nhấp một ngụm nước chè rồi chậm rãi: “Cậu biết rồi đấy, nhà ông Kẹn và nhà tôi gần nhau. Son là con gái duy nhất của ông Kẹn. Tôi và Son gắn bó với nhau từ nhỏ. Quấn quýt nhau, cứ thế lớn lên rồi yêu nhau khi nào cũng không biết nữa… Khi tôi và Son định thưa chuyện với hai gia đình thì ông Kẹn bị bệnh nặng… Ngày vợ chồng ông Kẹn bỏ bản đi, Son lủi thủi một mình trông thương lắm! Tôi quyết định đưa Son về ra mắt gia đình, xin cưới để đưa Son về ở hẳn nhà mình. Son mặc cảm nên nem nép bên cạnh tôi. Khi nghe tôi thưa chuyện, bố tôi chỉ nói đúng một câu gọn lỏn: “Không được” rồi ngồi hút thuốc lào tọc tọc, gân cổ nổi nhằng nhịt, khói bay mù nhà. Son về, cúi đầu bước lui cui…”. Chú Lình ngừng kể, ánh mắt sâu hun hút chớp liên hồi: “Sau hôm ấy Son bỏ bản đi tìm bố mẹ, còn tôi thì đi tìm Son. Mẹ bắt tôi thi vào trường Sư phạm, tôi đi học, cứ ngày nghỉ tôi tức tốc về, lên thuyền nan đi tìm Son. Hơn năm, trong một lần đi qua chợ Long Xuân tôi bất ngờ gặp lại Son, người gầy gộc, tóc xơ vàng, quần áo rách nát chẳng khác gì kẻ ăn mày. Son tìm nhặt ốc ở các bãi ven hồ đem đến chợ Long Xuân bán để lấy tiền mua muối, mỡ và dầu thắp. Nhìn thấy tôi, Son định bỏ chạy nhưng đã bị tôi giữ lại. Son cứ thế gục vào tôi mà khóc, Son bảo bố Son mất rồi, mẹ Son đang phát bệnh. Son bảo Son nhớ!…”. “Sau lần ấy, chú gặp cô Son thường xuyên chứ ạ?” - Tôi quay sang hỏi chú Lình. “Không. Cô ấy nhất quyết không cho tôi theo, nhưng tôi biết chắc chắn Son đang sống đâu đó cách Bản Lồ không xa. Son còn bảo tôi quên Son đi, Son không đáng để tôi yêu, rồi Son sẽ mắc bệnh, yêu Son là tự giết chết đời mình…”. “Đấy mới là tình yêu đích thực! Chịu thiệt thòi một mình để những điều tốt đẹp cho người mình yêu” - Tôi cắt ngang. Mặt chú Lình giãn hẳn ra: “Cậu yêu rồi hử? Triết lý gớm”. Chú Lình kể tiếp: “Ngày tốt nghiệp Sư phạm, về quê, tôi tìm đến Bản Hảu ngay vì tôi biết Son ở đó...”.
Từ ngày nhiều người trong Bản Lồ mắc bệnh, những gia đình có người bệnh dắt díu nhau sang chân núi Biệc sinh sống. Dân bản gọi nơi ấy là Bản Hảu, nghĩa là bản hủi. Hai bản gần như tách biệt hoàn toàn. Người Bản Lồ sợ hãi, tránh xa Bản Hảu, trẻ con không dám ăn cá vì tin cá ăn phải thịt người bệnh. Chỉ những đêm mùa lúa mới, tiếng chày giã cốm vọng qua mặt hồ mới nhắc họ rằng ở Bản Hảu vẫn còn người sống. Chú Lình tìm đến Bản Hảu. Nơi ấy chỉ là hơn chục căn nhà xiêu vẹo, nghèo đói và đầy bệnh tật. Son lúc ấy đã bắt đầu phát bệnh. Thấy chú đến, cô đuổi chú về rồi bỏ trốn lên rừng nhưng chú nhất quyết ở lại. Thời gian đó, vài đứa trẻ khỏe mạnh của Bản Hảu vẫn chèo thuyền sang trường Long Xuân học chữ. Tuy nhiên, vì sợ lây bệnh, học sinh trong trường bỏ học hàng loạt nên nhà trường buộc phải cho các em nghỉ. Chứng kiến cảnh ấy, chú Lình quyết định mở lớp học ngay tại Bản Hảu. Dù chính quyền chưa đồng ý vì số học sinh quá ít, chú vẫn tự lên rừng chặt cây dựng lớp, dạy học không lương. Đồng thời, chú viết đơn báo cáo tình hình bệnh phong lên ngành y tế huyện. Không lâu sau, huyện cử bác sĩ đến điều trị. Người dân Bản Hảu vui mừng như được hồi sinh. Sau nhiều năm, bệnh phong dần bị khống chế, chỉ còn vài người phải uống thuốc điều trị. Son may mắn được chữa khỏi hoàn toàn. Gia đình chú Lình phản đối quyết liệt việc chú ở lại Bản Hảu. Cha chú tuyên bố nếu đi thì đừng quay về nữa, mẹ khóc vì cho rằng con trai bỏ gia đình để vào “rừng ma nước hủi”. Nhưng chú vẫn quyết ở lại vì tin cha mẹ rồi sẽ hiểu. Khi chú xin cưới Son, dù biết cô đã khỏi bệnh, cha mẹ vẫn dè dặt. Đám cưới diễn ra đơn sơ, không khách khứa. Người trong Bản Lồ thấy hai người đều tránh né. Sau cưới, mẹ chú cho đôi vợ chồng đàn dê mang về Bản Hảu làm vốn sống.
Những năm đầu vô cùng khó khăn. Mùa màng thất bát, dân bản thiếu ăn triền miên. Một đêm, các cụ già đến hỏi chú: “Thầy giáo ơi, thầy là người có chữ, đi nhiều, hiểu biết nhất bản, thầy xem có cách gì cho Bản Hảu hết đói”. Chú trăn trở suốt đêm rồi nghĩ ra hướng làm ăn mới: khai khẩn thêm ruộng, nuôi gia súc và tận dụng mặt hồ rộng lớn để phát triển nghề đánh bắt. Nghe nói ở xã khác có người biết đan rọ bắt tôm, chú lặn lội đến học nghề rồi về dạy cả bản. Không ngờ hồ nhiều tôm vô kể. Người dân bắt được nhiều tôm đem bán khắp nơi, rồi còn đan rọ bán cho vùng khác. Nhờ đó cuộc sống dần khấm khá. Đàn dê của vợ chồng chú cũng phát triển mạnh nhờ núi Biệc có nhiều dây leo làm thức ăn. Chú cho mỗi hộ một cặp dê làm vốn. Vài năm sau, đàn dê sinh sôi khắp bản. Khi bệnh phong bị xóa bỏ hoàn toàn, nhiều người nơi khác đến lập nghiệp. Bản Hảu từ một xóm biệt lập trở thành bản chính thức với gần năm mươi hộ dân. Ngành giáo dục mở lớp học, tăng cường giáo viên. Chú Lình được kết nạp Đảng rồi được bầu làm trưởng bản.
Trên cương vị mới, chú tiếp tục dẫn dắt dân bản phát triển kinh tế. Chú vận động bà con trồng giống lúa mới, trồng dưa trên đảo hồ, mở rộng vụ đông, nuôi cá lồng trên hồ, trồng quế, cam và luồng. Mô hình nào chú cũng làm trước để dân tin rồi mới làm theo. Kinh tế Bản Hảu dần khởi sắc, người dân không còn mặc cảm hay bị xa lánh nữa. Mười năm sau, căn cứ dân số và điều kiện phát triển, Bản Hảu được công nhận thành một xã riêng mang tên mới: xã Làng Ven. Giờ tôi mới hiểu ý sâu xa của anh Chủ tịch xã: Nhân tố quan trọng trong xây dựng nông thôn mới ở Bản Hảu chính là sự hy sinh, cống hiến thầm lặng của những người như chú Lình.
Đêm đã khuya lắm, tôi vẫn không tài nào ngủ được. Phía bên kia, chú Lình quay mặt ra cửa sổ, nhịp thở đều đều, ánh trăng ngời lên những sợi tóc đã bắt đầu nhuốm bạc. Tôi biết chú Lình vẫn đang thức. Nhân vật của tôi đây, xương sống bài viết đây! Tôi vùng dậy cắm cúi viết. Chắc chắn tôi sẽ có một bài viết ấn tượng để báo cáo với Tổng biên tập.
Truyện ngắn: Nông Quang Khiêm











Ý kiến bạn đọc