Truyện ngắn: Âm vang một bài ca
Vào những ngày cuối mùa mưa này không hiểu tại sao lòng Tấn cứ như áng mây lãng đãng cuối chân trời, lúc thì trắng xóa, lúc thì đỏ rực, lúc thì chìm nghỉm trong những làn nước như sóng giữa rừng Trường Sơn một thuở. Lẩn giữa những áng mây đó trong mắt Tấn tự hiện lên cảnh chiến trận một thời xa ngái. Lúc ấy Tấn và Hưng đang lụt dưới căn hầm lét nhét nước, hai anh em có nhiệm vụ bám đài quan sát để dẫn điểm tọa độ cho pháo binh ta chặn đường tháo lui của địch. Tấn loay hoay kéo mảnh áo mưa lên cái máy 71 rồi xoay nhẹ công tắc, chiếc máy kêu e e rồi bật ra lời bài ca tha thiết, bồi hồi qua giọng người ca sĩ quen thuộc: “Trên những nẻo của Tổ quốc thân yêu, có những loài hoa thơm rạo rực lòng người…” .
![]() |
| Minh họa: Bích Ngọc |
Hưng nghiêng tai nghe rồi bảo Tấn:
Cho to to lên chút.
Tấn gật đầu bảo:
- Bài ca hay anh ạ.
- Ừ, mình mê bài ca này mà.
Thấy Hưng có cảm xúc lạ, Tấn nhẹ tay vặn công tắc, lời ca tràn ngập căn hầm. Hưng lặng người để cho tâm tư tràn theo giọng hát, chợt giọng Hưng ngọt ngào, chân thật. Ngày về phép đi B, mình cùng Mây lẻn giữa quả đồi quê, mình đã hát bài ca này và Mây gù vào vai mình như đưa trẻ, lúc ấy cả hai đứa cùng lạ lùng lắm!... Mây còn thủ thỉ vào tai mình: Đi xa lúc nào nhớ em anh lại hát ca khúc này là khi ấy em đang gù vào bờ vai anh đấy và anh cứ tin bụi phấn bảng luôn níu em giữa đám trẻ cho đến ngày anh trở về… Tấn cười: Lãng mạn phết nhỉ…. Chợt máy vụt tắt, tiếng e e rộ hơn. Tín hiệu từ bên kia vong rỗ. Vượt hỏa lực, lên đài quan sát 2. Chỉnh tọa độ pháo theo đường rút quân của địch…
Rõ, Tấn tắt máy nhắc lại mệnh lệnh cho Hưng một lần nữa rồi hai anh em rời căn hầm trườn đi. Mặt trời cũng tắt hẳn, mưa đổ xuống dữ hơn, hai anh em lách rừng, gạt mưa bò ngược ngọn núi tiến về đài quan sát 2. Đến đỉnh núi hai anh em phát hiện một khe đá hàm ếch nhô ra bờ sông Nậm. Hưng bảo: May, đỡ phải ủi hầm, cho máy vào đây.
- Rõ. Tấn nhanh nhẹn đặt máy vào khe đá, khẽ vặn công tắc. Tín hiệu từ đầu bên kia rõ mồn một: Phát hiện chính xác đường rút của địch từ các điểm cao xuôi bờ sông Nậm. - Rõ. Tấn truyền lệnh cho Hưng, Hưng rời khe đá tuồn ngược ngọn núi. Pháo sáng cũng lòe lên sáng rực trong màn mưa. Hưng vén lá rừng quan sát. Thấy con đường dọc về Phu Vai Nậm Cọ pháo sáng dày đặc, phía con đường mòn dọc sông Nậm thì thưa thớt, thi thoảng mới có một quả nhòe lên. Hưng lẩm bẩm: Không rõ địch rút đường nào, rồi anh tụt về khe đá, ra lệnh cho Tấn nói rõ hai tuyến đường. Một tuyến về phía phu vai pháo sáng dày đặc rực trời, phía con đường ven sông Nậm chỉ lưa thưa, đang quan sát chưa rõ đường rút của địch. Nhận mệnh lệnh từ Hưng, Tấn phát tín hiệu về cứ. Chỉ nửa phút mệnh lệnh từ cứ truyền lại.
- Tính tọa độ dọc con đường ven sông Nậm.
- Rõ. Hưng và Tấn lại bò ngược đỉnh núi. Nhìn kỹ từng chùm pháo sáng nhập nhòe vên bờ sông. Hưng lẩm bẩm tính rồi bảo Tấn:
- Tọa độ 100, đường bờ sông nhiều khúc lượn. Tấn phát tín hiệu. Chỉ nửa phút sau, pháo ta như mưa trút xuống con đường ven bờ sông Nậm. Địch la hét, đứa nhảy xuống sông, đứa leo ngược vách núi, pháo ta càng rập mạnh, một giờ, hai giờ rồi im bặt. Sự im bặt đến lạnh người. Máy lại kêu e e. Tấn áp tai. Từ đầu bên kia vọng rõ: - Kiểm tra tuyến đường ven sông Nậm
- Rõ. Nói rồi Tấn và Hưng luồn xuống bờ sông vén lá rừng. Xác địch ngổn ngang. Hưng bảo báo về cứ. Pháo ta đánh trúng mục tiêu, địch chết nhiều. Tiếng máy e e. Tín hiệu chuyển nhanh về cứ. Hưng bảo Tấn. Tư lệnh mình tài thật, các cụ nhận rõ bài nghi binh của địch. Chúng đã đền mạng. Hai anh em lặng lẽ rút. Qua chỗ dốc Mèo trời cũng tảng sáng, một nhóm tàn binh đang tụm ven bờ sông, Hưng trườn tới, chúng phát hiện vãi đạn bốn phía, Hưng tung quả mỏ vịt, mấy thằng ngã gục nhưng một họng súng từ bụi rậm nhòe lên viên đạn cắm vào vai Hưng, máu tóa khắp bả vai.
Tấn nhào tới xả đạn về phía mục tiêu, Thằng địch hộc lên một tiếng rồi ngã xoài. Tấn quay lại xé áo băng vết thương cho Hưng. Máu chảy nhiều quá, da mặt Hưng trắng bệch. Hưng kéo Tấn lại gần, giọng khe khẽ. Hết chiến trận nếu còn sống sót, Tấn về quê Hưng nhé. Làng Rồng, xã… tìm gặp Mây và đưa kỷ vật này cho Mây giúp Hưng nhé. Nói rồi Hưng lần túi ngực lấy ra quyển sổ bé tý trong đó có ca khúc Bài ca người giáo viên nhân dân. Và Hưng mấp máy môi. Lời ca vẳng lên: “Trên những nẻo đường của Tổ quốc thân yêu…” Rồi mắt Hưng từ từ khép lại.
Tấn ôm Hưng vào lòng, không khóc nhưng nước mắt ướt nhòe, trong làn nước ướt ấy cùng tràn ra lời ca. Trên những nẻo đường… Tấn cứ ôm Hưng lòng ngập trong lời ca ấy. Trời sáng thì đơn vị tới. Đồng đội lặng lẽ khâm niệm cho Hưng và đặt Hưng nằm chỗ cây sung to rợp bóng bên bờ sông Nậm.
Chiến tranh liên miên. Tấn sống sót, ngày hai miền thống nhất Tấn trở về và anh lặng lẽ tìm đến làng Rồng. Chiều ấy trời đầy mây tím, sông Lô lặng lẽ trôi. Ngôi trường làng hiện ra dưới đồi sim chi chít quả, buổi chiều sân trường lặng lẽ. Tấn bước vào căn phòng phía cuối trường, người đàn ông tóc đã điểm sương vẫn ngồi lặng lẽ bên cái bàn gỗ đơn sơ. Sau vài lời xã giao làm quen và lý do Tấn tìm đến đây, người đàn ông cũng tự giới thiệu. Ông là Phước, hiệu trưởng nhà trường. Tấn vâng dạ rồi bày tỏ câu chuyện... Ông Phước tần ngần nhìn anh nhưng không hiểu sao giọng ông cứ nghẹn lại. Tấn biết có chuyện chẳng lành, anh đổ ánh mắt về ông Phước nhưng chưa biết hỏi thêm gì. Giọng ông Phước bỗng trầm xuống: “Anh về muộn, chuyện buồn mãi đến giờ. Đất nước chiến tranh nhiều lẽ không tính được. Năm bẩy hai giặc lại bắn phá ra khắp miền Bắc, cô Mây dẫn các em đi sơ tán, qua cầu K một đoạn thì bị tàu bay oanh tạc, cầu bị sập, một em bé trúng mảnh bom ngã xuống cầu, khi ấy dòng nước vẫn cuộn xoáy, chả tiếc thân mình cô Mây lao xuống đẩy được học sinh lên bờ thì bất thần một một làn đạn từ thằng f4 phóng xuống, cô trúng đạn máu loang dòng nước… Bây giờ mộ cô được đặt trong nghĩa trang liệt sĩ của xã và cô được hưởng vinh dự đó!... Ông Phước thở dài.
Tân lặng người một lúc rồi hỏi:
- Vậy nhà cô Mây và bây giờ gia đình?... Ông Phước không nói gì tần ngần đứng dậy dẫn Tấn đi. Hai người lặng lẽ men theo sườn đồi, đến chỗ bãi soi xoài ra bến nước thì thấy những lùm tre tỏa mát khắp mặt sông, ngôi nhà nhỏ nép dưới lùm tre ấy. Hai người bước vào, nhà cửa mở nhưng vắng người. Ông Phước và Tấn đứng tần ngần giữa sân, một lát thì thấy bà lão ôm bó rau từ ngoài vườn vào. Thấy khách giọng bà đon đả:
- Chào ông giáo, mời ông giáo và anh vào nhà… Bình nước vối cũng được giót đầy các bát. Ông Phước thong thả thưa chuyện với bà việc anh bộ đội tìm về đây. Căn nhà bỗng lắng xuống, Tân nhìn bà, nhìn khắp căn nhà. Trên án thờ bức ảnh cô gái ẩn dưới bình nhang, gương mặt và đôi mắt sáng ngời. Tấn im lặng và câu chuyện của Hưng lúc ngã xuống giữa trận mạc cũng được kể lại dưới căn nhà. Không ai khóc nhưng mọi người cùng kéo vạt áo lau mắt. Một lát sau giọng bà lão thì thầm. Hai đứa nó giời không cho hết, ngày anh Hưng đi trận nhà đã nhận cơi trầu, rồi từ ấy tháng ngày cứ vời vơi, rồi giấy báo tử của anh Hưng về, rồi ngày cái Mây!... Bây giờ ông bà của anh Hưng cũng về cõi cả rồi. Cũng còn phước, nhà nước đã đưa được hài cốt anh Hưng về quê. Bây giờ hai đứa nó cùng nằm trong nghĩa trang liệt sĩ của xã! Thôi thì!... Bà lão thở ra. Tấn ngậm ngùi rồi anh mở túi lấy ra quyển sổ của Hưng đặt trước di ảnh Mây. Khói hương tràn ngập làm cho ngôi nhà càng linh thiêng. Và dưới làn mây khói ấy tự vẽ con đường đưa Tấn ra nghĩa trang liệt sĩ. Nghĩa trang trắng toát tên tuổi các liệt sĩ là con em của quê nhà lấp lánh sáng. Mộ của Hưng và Mây đặt gần nhau, không biết người sắp đặt hay giời se lại thế. Tấn đứng lặng trước bia mộ và lời ca từ môi Hưng giữa ngày trận mạc mấp máy vang lên: “Trên những nẻo đường của Tổ quốc thân yêu!...” lời ca văng vẳng vang mãi khắp quê nhà.
Trịnh Thanh Phong











Ý kiến bạn đọc