Truyện ngắn: Một đời
1/ Trời đất xứ quê dạo này bước vô mùa gió chướng. Những cơn mưa dầm dai dẳng xối xả trút xuống dòng sông đỏ quạch phù sa, tạt rầm rập vô mấy tán dừa nước rồi chảy tràn qua cái sân lót gạch tàu đã đóng rêu xanh. Nước ròng rút mệt mỏi, trần ra những dải bùn xám ngoét.
Trong căn nhà lá ba gian xiêu vẹo cắm cọc mé kênh xáng, dì Bảy Thắm ngồi trầm ngâm bên chiếc khung dệt gỗ đã ngả màu mốc xám.
Năm nay dì Bảy bước sang tuổi mụ bảy mươi. Cái tuổi da thịt đã héo quắt lại như trái bình bát khô treo gác bếp, đôi mắt chìm sâu dưới những vết chân chim chằng nhịt. Ấy vậy mà hễ mỗi bận chiều buông, khi khói bếp nhà ai bên cù lao bay la la trên mặt nước, dì lại ngồi nhìn từng tấc vải, tay vuốt ve chiếc áo dài vải gấm màu đỏ đã ngả màu dâu chín. Chiếc áo dài đó, dì Bảy may từ hồi mười chín tuổi. Nhưng cả đời dì, chưa một lần được mặc nó bước qua giàn hoa giấy để làm cô dâu.
Năm mươi năm trước, xóm Cù Lao còn chìm trong lửa đạn. Chú Hai Bằng, người con trai xóm trên có nụ cười hiền khô và đôi mắt sáng như sao đêm, đem lòng thương cô con gái nhỏ bến sông là dì Thắm. Hai bên gia đình mới chỉ làm cái lễ "dạm ngõ" đơn sơ với cơi trầu, cau tươi và dải vải gấm màu đỏ chú Bằng dành giụm tiền bán lúa mua tặng. Chưa kịp chọn ngày lành tháng tốt để dựng rạp cưới, chưa kịp trao nhau nhẫn đôi, thì tiếng súng chiến trường dội rền qua các dải đồi Tây Nam.
Chiều hôm đó, chú Bằng khoác chiếc ba lô có đính cành lá ngụy trang khô, bước xuống chiếc vỏ lãi ra đi. Dì Thắm đứng dưới gốc dừa nước, tay ôm chặt tấm vải gấm đỏ, nước mắt chảy dài trên má. Chú Bằng nắm lấy bàn tay run rẩy của dì, giọng chắc nịch qua tiếng máy vỏ lãi tạch tạch:
- Thắm ở nhà đợi anh. Hết giặc anh về, anh rước em về làm vợ. Anh sẽ tự tay dắt em bước qua cầu ván, mặc chiếc áo dâu đẹp nhất xóm này!
Dì Thắm gật đầu trong nước mắt. Lời hứa ấy như một cái đinh đóng cột, găm chặt vô tâm khảm cô gái mười chín tuổi.
![]() |
| Minh họa: Bích Ngọc |
Thế nhưng, chiến tranh năm ấy khốc liệt đến tàn nhẫn. Dải đất cuộn sóng, rừng tràm cháy ngút trời, bị đạn pháo và bom napalm thiêu rụi, khói độc quánh đặc cuộn lên đen kịt cả một góc, át đi cả ánh nắng chói chang của vùng sông nước. Trên các tuyến kênh xáng, nước không còn mang màu phù sa đỏ nặng mà ngầu lên sắc máu tươi và vết dầu khói khét nẹt. Đêm đêm, tiếng pháo cầm chừng dội rền vang chấn động cả lòng đất, tiếng máy bay đầm già rà soát xè xè trên ngọn dừa nước gieo rắc sự hy sinh rình rập trong từng hơi thở. Những trận giáp lá cà diễn ra tàn khốc giữa các lòng kênh hẹp; chiến sĩ ta phải ngâm mình nhiều ngày liền dưới đầm lầy ngập ngang ngực, bám chặt vô rặng bần, vắt hút đỏ da, để chờ thời cơ tiến đánh. Giữa mưa đạn rát mặt và tàn bạo của kẻ thù, biết bao người con trai trẻ trung đã anh dũng ngã gục, lòng ngực găm đầy mảnh đạn pháo, tay vẫn siết chặt quai ba lô trước khi chìm vào lòng đất mẹ. Những chàng trai mười chín, đôi mươi tuổi ấy lao vô đồn bốt địch, nằm lại giữa đầm lầy ngập ngang ngực để đổi lấy màu xanh cho bãi bồi, sông rộng.
Ở các vùng ven biên giới và đồn bốt tiền tiêu, cuộc đối đầu giữa ta và địch ranh giới sống chết chỉ tính bằng từng giây ngắn ngủi. Những đợt càn quét liên mịt của quân thù cày xới nát tươm từng gò đất, bãi sậy; bom đạn trút xuống như trút nước làm gãy đứt hàng ngàn cây dừa, san phẳng những ngôi làng yên bình bên bờ kênh. Để giữ vững từng góc kênh, bến nước, các chiến sĩ trẻ phải đào từng tấc gian hầm hèn hạ dưới cái nóng hừng hực và thiếu thốn lương thực, nước sạch trầm trọng. Có những đêm mưa dầm, hào quân y dã chiến ngập đầm đìa nước lũ, những người lính thương binh nằm đè lên nhau, vết thương hoại tử vì thiếu thuốc men nhưng vẫn không một tiếng than. Nhiều người trong số họ còn quá trẻ, da còn thơm mùi lúa mới, chưa từng biết đến một cái nắm tay hay một lá thư tình, đã lặng lẽ trút hơi thở cuối cùng trong lòng đồng đội giữa tiếng đạn pháo gầm rú xé rách không gian.
Sự khốc liệt của chiến tranh không chỉ hiện hữu nơi đầu súng xông hơi đạn, mà còn in hằn vết thương rỉ máu vào từng nếp nhà nơi hậu phương. Mỗi đợt sóng chiến sự dâng cao là mỗi lần làng quê lại quặn thắt nhận về những tin báo tử từ mặt trận gửi về. Máu của hàng ngàn thanh niên đã thấm đẫm từng tấc đất bãi bồi, hòa tan vào dòng sông cuồn cuộn sóng để đổi lấy màu xanh cho cây lá, sự bình yên cho bờ đê. Mất mát ấy chất đè lên vai những người mẹ, người vợ ở lại, những người phải nuốt ngược nước mắt vô trong, vừa chịu đựng sự tàn phá của bom đạn giặc càn qua làng, vừa mòn mỏi ngóng chờ một hình bóng không bao giờ trở lại.
Một chiều mưa dầm, khi những bông bần nở muộn rụng trắng mặt kênh, người ta mang về cho gia đình tấm giấy báo tử viền đen bọc trong bao ni-lông: Liệt sĩ Nguyễn Văn Bằng - Hy sinh tại chiến trường miền Đông.
Chao ôi, cái chiều hôm đó, cả bến sông như sụp đổ. Mẹ chú Bằng khóc ngất bên hiên nhà, còn dì Thắm thì chết đứng. Người ta bảo dì khóc không ra tiếng, hai mắt dại đi. Mấy người trong xóm thương tình, ghé tai thủ thỉ: "Con với nó mới dạm ngõ thôi, chưa có cưới hỏi, chưa xuất giá, coi như chưa phải là vợ chồng. Mới mười chín, hai mươi tuổi đầu, con ráng gạt nước mắt rồi tìm gá nghĩa với người ta, chớ ở vậy sao đành con ơi!".
Dì Thắm nghe, chỉ lẳng lặng gạt nước mắt. Dì bước về gian phòng nhỏ của mình, ôm lấy tấm vải gấm đỏ chú Bằng tặng, quỳ xuống trước bàn thờ tổ tiên. Dì không khóc rống lên, chỉ nghẹn ngào lẩm bẩm mấy lời thề nguyện mà nghe đanh thép như đá tảng:
- Anh Bằng đã coi con là vợ, con cũng đã coi anh ấy là chồng. Anh ấy ngã xuống vì đất nước, con ở lại giữ trọn một lòng với anh. Cả đời này, con chỉ thờ một người chồng là Nguyễn Văn Bằng.
Từ ngày hôm đó, dì Thắm ở vậy. Dì dọn sang nhà mẹ chú Bằng, thay chú gánh gồng chăm sóc người mẹ già đau yếu. Dì lội bùn cắt lúa, chèo ghe chở chuối ra chợ huyện, thức khuya móp lưng bên ngọn đèn dầu để nuôi mẹ chồng, người mẹ chưa từng một lần được nghe dì gọi hai tiếng "mẹ chồng" trước họ hàng thân thích.
Đêm đêm, dưới ánh đèn dầu tù mờ, dì Thắm lại lôi tấm vải gấm đỏ ra. Dì tự tay đo, tự tay cắt, rồi từng kim mũi chỉ khâu nên chiếc áo dài dâu. Dì khâu trong nỗi nhớ quay quắt, từng mũi chỉ là một giọt nước mắt lặn vô trong. Chiếc áo hoàn thành nhưng dì chưa từng một lần mặc thử. Dì xếp nó lại gọn gàng, bọc trong lớp giấy nến thơm mùi hoa bưởi rồi cất sâu dưới đáy rương gỗ.
2/ Năm tháng trôi qua như dòng nước sông không bao giờ chảy ngược.
Mẹ chú Bằng mất sau ngày hòa bình vài năm, trước khi nhắm mắt còn nắm chặt tay dì Thắm mà khóc: "Má nợ con một người chồng, nợ con một đám cưới...". Dì Thắm mỉm cười qua giọt nước mắt, nhẹ nhàng vuốt mắt cho mẹ.
Xóm cù lao dần đổi thay. Mấy cô gái cùng lứa với dì lần lượt lấy chồng, sinh con đẻ cái. Tuổi xuân của dì Thắm chìm lấp theo những mùa nước nổi. Đã có biết bao người đàn ông thương cái nết na, tần tảo của dì mà đến ngỏ lời. Có người hứa sẽ thương dì, chăm lo cho dì lúc về già, nhưng dì đều mỉm cười cúi đầu từ chối.
Dì bảo: "Lòng tôi đã gởi lại chốn chiến trường theo anh Bằng rồi. Mặc chiếc áo dâu vô người mà lòng mang bóng hình người khác thì tội cho người ta, mà phụ cả tình anh Bằng".
Mấy mươi năm, dì ở một mình trong căn nhà lá mé kênh xáng. Mỗi bận xóm có đám cưới, tiếng nhạc ngũ âm rộn rã, nhìn những cô dâu trẻ mặc áo đỏ tươi bước qua chiếc cầu ván nhỏ, mắt dì Bảy lại đong đầy một khoảng trống mênh mông. Dì không ghen tị, chỉ thấy lòng mình thắt lại. Dì nhớ về một lời hứa dở dang dưới gốc dừa nước năm nào.
Người ta gọi dì là "người vợ không cô dâu", là "người phụ nữ hóa đá bên bến sông". Nhưng với dì, dì chưa từng thấy mình bất hạnh. Dì sống trọn vẹn với một tình yêu thủy chung, sạch trong như dòng nước ngọt đầu mùa.
3/ Chiều nay, gió chướng thổi mạnh làm chao đảo ngọn đèn dầu trên bàn thờ chú Bằng. Dì Bảy Thắm run rẩy tiến lại gần, đốt một nén hương thơm. Khói hương tỏa ra ngai ngái, quyện với mùi mưa dầm ngoài bờ kênh.
Dì chầm chậm mở chiếc rương gỗ cũ kỹ. Chiếc áo dài dâu màu đỏ gấm vẫn nằm đó, phẳng phiu, dẫu qua nửa thế kỷ đã ngả sang màu trầm đục. Dì đưa bàn tay gầy gò, nổi đầy gân xanh miết nhẹ lên mặt vải nhẵn mịn.
- Anh Bằng ơi... Dì Bảy thầm thì, giọng rung rung như tiếng gió lùa qua vách nứa. - Em giữ trọn lời hứa với anh rồi nha. Năm mươi năm qua, em chưa từng làm điều gì có lỗi với anh...
Ngoài bến sông, tiếng sóng vỗ bập bềnh vô chân kè dừa. Trong bóng chiều nhá nhem của đất trời, đôi mắt đục mờ của dì Bảy như thấy một vệt sáng ấm áp từ ngoài bờ kênh rọi vô.
Nơi chiếc cầu ván bắc qua rạch, một chiếc vỏ lãi chầm chậm tạt vô bến. Một người trẻ tuổi mặc bộ đồ quân phục xanh lá, vai đeo ba lô, nụ cười hiền khô có chiếc răng khểnh bước lên. Người đó đứng dưới gốc dừa nước năm xưa, vẫy vẫy bàn tay đen nhép, cất tiếng gọi ngọt xớt mà dì đã chờ đợi suốt cả một đời người:
- Thắm ơi! Anh về rước em nè!
Dì Bảy Thắm mỉm cười. Nụ cười móm mém nhưng rạng rỡ, trẻ trung đến lạ kỳ, như ôm trọn cả tuổi mười chín mộng mơ năm nào. Dì Bảy ôm chiếc áo dâu màu đỏ vô lòng ngực, nhắm mắt lại chầm chậm.
Giữa ranh giới của cõi thực và cõi mộng, ngoài sông gió vẫn thổi miên man, nhưng lòng người thiếu phụ ấy đã trọn vẹn một bình yên. Dì đã đi hết một kiếp người thủy chung, để giờ đây yên lòng bước qua chiếc cầu ván hư ảo, mặc lên mình chiếc áo cô dâu trong vòng tay của người mình thương.
Truyện ngắn: Trần Thị Thanh Trúc











Ý kiến bạn đọc